Sao chép đường dẫn

Bài 91: Thánh giáo của Ðức Lý Giáo Tông ban sắc phục cho Nữ phái

Tây Ninh, 2-2-1927 (âl 1-1-Ðinh Mão): TẾT ÐINH MÃO.

THÁI BẠCH

Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho Nữ phái. Nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.

Nữ phái phải tùng Ðầu Sư Nữ phái, song tùng quyền của Giáo Tông và Chưởng Pháp.

Ðầu Sư Nữ phái cũng phải chịu công cử theo luật Hội Thánh ban hành, theo luật Hội Thánh ban xử đường Ðời và đường Ðạo.

Ðầu Sư Nữ phái mặc một Ðạo phục y như Ðạo phục Ðầu Sư Nam phái, phải đội một Ni Kim Cô như các vãi chùa, toàn hàng trắng, chín dải, áo có thêu bông sen. Cái Kim Cô có choàng từ đầu tới gót, đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngang đầu tóc có Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày Vô ưu màu trắng, trên chót để chữ Hương, nghe à!

Phối Sư cũng mặc y như vậy, song không có mão Phương Thiên, áo ba dải, nhưng trước ngực có thêu Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, nghe à!

Giáo Sư mặc áo ba dải, đội Kim Cô bằng hàng trắng, không đi giày.

Giáo Hữu mặc Ðạo phục như Giáo Sư, đầu không đội mão, mà giắt một Bông sen, trên Bông sen có Thiên nhãn Thầy.

Lễ Sanh Nữ phái mặc như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một Bông sen.

Thầy vì thấy nhiều người vắng mặt nên phải đợi đủ mới phong chức. Lâm Hương Thanh hiền muội phải viết thơ mời đủ mặt ngày rằm nầy, Thầy đến phong chức lập thành Nữ phái, nghe à!

Chú thích

Bài Thánh Ngôn nầy, Ðức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm, lập Pháp Chánh Truyền Nữ phái CTÐ, ngày mùng 1 Tết Ðinh Mão (1927).

Ðiều đặc biệt là Ðức Chí Tôn không lập Pháp Chánh Truyền Nữ phái CTÐ, mà lại giao cho Ðức Lý Thái Bạch lập.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải, Ðức Phạm Hộ Pháp có viết: “Chẳng hiểu có điều chi huyền bí với Thầy cùng Ngọc Hư Cung nên Thầy mới đành lòng nói ra lời ấy, rồi lại cam lòng để cho Ðức Giáo Tông đứng lập, đặng tránh cho khỏi luật lệ Thiên điều hay chăng?”

“Xem rõ lại thì Pháp Chánh Truyền truất quyền Nữ phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông.”

Chức sắc Nữ phái CTÐ chỉ có 1 vị Nữ Ðầu Sư, 1 vị Nữ Chánh Phối Sư, còn số lượng Nữ Phối Sư, Nữ Giáo Sư, Nữ Giáo Hữu, đều không hạn định như Chức sắc Nam phái CTÐ. Ðây là ân huệ lớn lao của Ðức Chí Tôn dành riêng cho Nữ phái.

Sao chép đường dẫn

Bài 92: Thánh giáo của Thượng Chưởng Pháp Tương mừng vui cho Ðạo

Tây Ninh, TẾT ÐINH MÃO
Ngày 2-2-1927 (âl 1-1-Ðinh Mão)

Thượng Chưởng Pháp TƯƠNG

Hỉ chư đạo hữu, chư đạo muội.

Mừng … Mừng … Mừng … Vui … Vui … Vui …

Ðại phước cho cả nhơn sanh, đại hạnh cho Ðịa cầu số 68 nầy, em còn phải công quả phổ độ mới vào đặng Tam thập lục Thiên, nhờ Ðại Từ Phụ cứu độ em, khuyên nhủ cùng chư huynh khá coi Thiên vị mình là trọng, vì là của quí báu vô giá; còn sụt sè đường đạo, xin nhớ lấy danh em, cự chống cùng Tà ma Quỉ mị cám dỗ.

Tương đây, công cán chẳng chi mà còn đặng địa vị nầy, huống lựa là mấy anh độ rỗi toàn cả Cửu nhị Nguyên nhân, thì phẩm cựu sẽ đặng trổi thêm thế nào! Xét lấy đủ vui lòng mà hành đạo….

Chú thích

(Xin xem lại Chú thích bài Thánh Ngôn 58).

Cửu nhị Nguyên nhân: 92 ức Nguyên nhân. Thời Thái cổ, Ðức Phật Mẫu cho 100 ức Nguyên nhân xuống trần khai hóa nhơn loại. Số 100 ức Nguyên nhân nầy xuống trần nhiễm trược trần nên không trở về thiêng liêng được. Ðức Chí Tôn mở Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, độ được 6 ức; rồi mở Nhị Kỳ Phổ Ðộ độ được 2 ức nữa; còn lại 92 ức đang chìm đắm nơi cõi trần. Mở ÐÐTKPÐ nầy, ÐCT có ý cứu độ hết 92 ức Nguyên nhân nầy trở về cựu vị. Ðây là lần cứu độ thứ ba và cũng là lần chót.

Sao chép đường dẫn

Bài 93: Thánh giáo Ðức Lý về việc Ngài khẩn cầu cho các nơi khỏi tội nhưng không được

Tây Ninh, ngày 5-2-1927 (âl 4-1-Ðinh Mão)

THÁI BẠCH

Hỉ chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh, hảo hội hiệp.

Thảm cho nhơn loại! Khổ cho nhơn loại!

Ðời quá dữ, tội tình ấy, hình phạt kia cũng đáng đó chút.

Lão đã vì thương yêu nhơn sanh, hội mười ngày nơi Bạch Ngọc Kinh, cãi cho qua nạn nhơn loại, nhưng luật Thiên điều chẳng dễ chi sửa đặng.

Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau tới buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng rán chịu, lạy lục khẩn cầu.

Chư đạo hữu đâu rõ thấu, ngơ ngơ ngáo ngáo như kẻ không hồn, thấy càng thảm thiết!

Lão tưởng chẳng cần phải nói chi một nước nhỏ nhoi đã đặng danh Thánh Ðịa là nước Nam nầy, mà Lão xin không đặng tội cho thành Sài gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội thay!

Thảm! Thảm! Thảm!

Sao chép đường dẫn

Bài 94: Bát Nương dạy: Phận sự tu hành là phải biết người, quên mình.v.v…

Không rõ ngày giáng cơ

BÁT NƯƠNG

Chào quí anh, quí chị.

Mời bình thân.

Năm mới, chùa mới, vạn sự đều mới, vậy em đến cầu chúc cho quí anh quí chị đặng những điều mới mẻ may mắn. Tân Xuân đây, quí anh quí chị coi bộ rán nông trang hành đạo.

Em cho biết, phàm mỗi năm, những vị nào trong lúc ngày Xuân, biết lo phụng sự Thần, Thánh, Tiên, Phật thì công đức đặng xấp bằng hai lần ngày thường.

Còn việc các Ðấng phú thác cho mình, hoặc yêu cầu mình thi hành một vấn đề nào, nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Ðấng cũng ghi công cho. Nhược bằng mình không tuân hoặc lười biếng trễ nải, thì các Ðấng lại ghi tội cho.

Vậy, xin các anh các chị rán hiểu giùm.

Muôn việc chi khởi đầu đều khó, nhưng cái khó mình lướt qua đặng, mới có công, mới anh hùng, mới chí sĩ, mới đáng đạo sĩ.

Quí anh quí chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo, chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Luôn dịp, em sắp chương trình hành lễ Ðức Chí Tôn.

Ðến ngày mùng 8, các anh các chị cũng rán công quả hai ngày, nhang đèn hành Ðại lễ.

Quí anh tầm một phương pháp, dùng tạm thời một ngọn đèn có đủ yếng sáng, vì chúng ta không có những đèn có đủ yếng sáng, nên cùng chẳng đã phải tạm đó thôi. Ðèn bảy ngọn, cũng có lẽ đặt tên là Thất Tinh. Quí anh quí chị luận coi. Em xin tạm năm phút đồng hồ cho quí anh quí chị suy nghĩ, rồi trả lời từ anh từ chị. (Ngưng cơ một lúc)

Xong chưa?

Bạch rằng: Có cái đèn của anh Phối Sư, tuy cũ nhưng chùi lau có lẽ cũng tốt.

Em gọi rằng tạm thì vật chi miễn có đủ bảy ngọn đèn thì có thể dùng được.

Bạch: Ðèn Thất Tinh, Bà định treo ở đâu?

– Ðể tại đây thế cho ngọn đèn trước hết, để khi nào có cầu đàn mới dùng, còn thường ngày khỏi phải đốt lên, vì một là cho đủ yếng sáng, hai là rọi Chơn thần của quí anh quí chị cho sáng lạn minh mẫn. Ðúng giờ Tý nầy khởi lễ. Khi cầu các Ðấng, phải rán thủ lễ. Mãn lễ cũng để nhang đèn như kỳ nầy vậy.

– Bạch: Xin Bà cho biết có tụng Sám Hối hay Kinh chi thêm?

– Ðức Ðại Tiên Trưởng cho hay rằng: Ngài đã yêu cầu Ðức Chí Tôn bữa Ðại lễ giáng đàn. Vậy ngày kế, quí anh quí chị sẽ đọc kinh cũng như ngày Xuân, song khoản cầu trong Kinh Cứu Khổ, chỗ xưng hô đệ tử, xin quí anh quí chị đổi lại “cầu chung cả cho chúng sanh”. Khi Ðức Chí Tôn giáng, chẳng nên mật niệm điều chi và chẳng nên chạy qua chạy lại.

Ðánh chuông phải sắp đặt cho có một vị đứng Hầu chung cho sẵn, đến khi xưng tên thì mới hầu chung.

– Bạch: Xin Bà cho biết, lạy rồi mới hầu chung phải chăng?

– Xưng tên rồi, cơ ngưng, sẽ hầu chung. Khi Chí Tôn thăng, quí anh quí chị cả thảy phải lạy đưa, rồi tái cầu, có Ðức Mẹ giáng đàn. Chư Tiên, chư Phật hầu lễ tại Ðiện tiền, cậy em thay mặt trao lời cầu chúc ngày Xuân cho quí anh quí chị.

Xin quí anh quí chị rán nắm gốc cây cho chắc, kẻo gió lớn thổi bay đa! Ví dầu có thổi thế nào thì em xin quí anh quí chị rán bịn gốc lại nghe.

Em xin dâng cho quí anh cùng quí chị thêm một tuổi nữa. Em xin kiếu. Thăng.

Chú thích

Bài Thánh Ngôn nầy của Bát Nương không có đề ngày và nơi giáng cơ, nhưng theo nội dung của bài nầy, Bát Nương giáng sắp đặt buổi Ðại lễ Vía Ðức Chí Tôn đêm mùng 8 tháng Giêng năm Ðinh Mão tại Thánh Thất mới là Từ Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh, nên có lẽ giáng vào đêm mùng 6 hoặc mùng 7 tháng Giêng năm Ðinh Mão, tại Từ Lâm Tự, Gò Kén.

Nông trang: Nôn nóng thúc giục làm việc.

Mạng pháp: Mạng lịnh và phép tắc.

Chí sĩ: Người có chí khí lớn, quyết tâm đấu tranh cho chánh nghĩa.

Ðạo sĩ: Người phế bỏ việc đời, chuyên tâm tu hành.

Cư bất cầu an, thực bất cầu bão: Ở không mong được yên, ăn không mong được no, ý nói: Không cần phải có những tiện nghi vật chất đầy đủ cho đời sống. Sách Luận Ngữ có viết: Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học giả dĩ. Nghĩa là: Người quân tử ăn không cầu no, ở không cầu yên, làm việc thì cần mẫn, nói điều gì thì thận trọng, tìm người có đạo mà theo học, để làm cho chánh đáng ngôn ngữ và hành vi của mình. Ðược như thế mới có thể gọi là người hiếu học.

Sáng lạn: Rực rỡ, sáng sủa. (Xán lạn: Rực rỡ).

Hầu chung: Người đứng kế bên cái chuông giữ phận sự đánh chuông cho mọi người làm lễ đồng một lượt.

Cuối bài Thánh Ngôn, Bát Nương tiên tri: Chức sắc sẽ bị thử thách, và dặn giữ vững đức tin nơi Ðức Chí Tôn.

Sao chép đường dẫn

Bài 95: Sở dụng Thiêng Liêng và sở dụng phàm trần của Hiệp Thiên Ðài

Ngày 13-2-1927 (âl 12-1-Ðinh Mão)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI

giáo đạo Nam phương

Các con.

Cả chư môn đệ khá tuân mạng.

Hiệp Thiên Ðài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Ðạo. Hễ Ðạo còn thì Hiệp Thiên Ðài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa.

Lại nữa, Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập bát Ðịa cầu, Thập Ðiện Diêm Cung, mà cầu siêu cho cả nhơn loại.

Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.

Hiệp Thiên Ðài dưới quyền Hộ Pháp chưởng quản, tả có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm.

Thầy lại chọn Thập nhị Thời Quân chia làm ba:

1. Phần của Hộ Pháp chưởng quản về PHÁP thì:

  • Hậu là Bảo Pháp, (1)Bảo là giữ gìn; Hiến là dâng; Khai là mở, bày ra; Tiếp là rước.
  • Ðức là Hiến Pháp,
  • Nghĩa là Khai Pháp,
  • Tràng là Tiếp Pháp,

Lo bảo hộ Luật đời và Luật Ðạo, chẳng ai qua Luật mà Hiệp Thiên Ðài chẳng biết.

2. Thượng Phẩm thì quyền về phần ÐẠO,dưới quyền:

  • Chương là Bảo Ðạo,
  • Tươi là Hiến Ðạo,
  • Ðãi là Khai Ðạo,
  • Trọng là Tiếp Ðạo, (2)Ông Cao Ðức Trọng đắc phong Tiếp Ðạo sau hết.

Lo về phần Ðạo nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất, đều xem sóc chư môn đệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm Luật đến khổ khắc cho đặng.

3. Thượng Sanh thì lo về phần ÐỜI:

  • Bảo Thế thì Phước,
  • Hiến Thế: Mạnh,
  • Khai Thế: Thâu,
  • Tiếp Thế: Vĩnh.

Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo.

Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền ắt trọng phạt. Thầy ban ơn cho các con.

Chú thích

Bài Thánh Ngôn nầy, Ðức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Ðài, ngày 12-1-Ðinh Mão, và phong chức chánh thức cho Thập nhị Thời Quân, mà trước đây, Ðức Chí Tôn chỉ tạm phong là: Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ.

Chức sắc cầm quyền Hiệp Thiên Ðài gồm:

  1. Chưởng quản HTÐ và chưởng quyền chi Pháp: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
  2. Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư chưởng quyền chi Ðạo.
  3. Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang chưởng quyền chi Thế.

Thượng Phẩm và Thượng Sanh là Phụ Tá cho Hộ Pháp.

Dưới Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh có Thập nhị Thời Quân, chia ra ba Chi: Pháp, Ðạo, Thế.

Chi Pháp gồm bốn vị Thời Quân:

  1. Bảo Pháp: Nguyễn Trung Hậu.
  2. Hiến Pháp: Trương Hữu Ðức.
  3. Khai Pháp: Trần Duy Nghĩa.
  4. Tiếp Pháp: Trương Văn Tràng.

Chi Ðạo gồm bốn vị Thời Quân:

  1. Bảo Ðạo: Ca Minh Chương.
  2. Hiến Ðạo: Phạm Văn Tươi,
  3. Khai Ðạo: Phạm Tấn Ðãi.
  4. Tiếp Ðạo: Cao Ðức Trọng.

Chi Thế gồm bốn vị Thời Quân:

  1. Bảo Thế: Lê Thiện Phước.
  2. Hiến Thế: Nguyễn Văn Mạnh.
  3. Khai Thế: Thái Văn Thâu.
  4. Tiếp Thế: Lê Thế Vĩnh.

Theo ÐS.II. 11-12, để dự bị Thập nhị Thời Quân, ÐCT lập 6 cặp Phò loan, phong là Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo sĩ, gồm:

  • Trương Hữu Ðức – Nguyễn Trung Hậu: Phò loan tại đàn Cầu Kho (nhà của Ông Ðoàn Văn Bản).
  • Trần Duy Nghĩa – Trương Văn Tràng: Phò loan tại đàn Lộc Giang (Phuớc Long Tự Chợ Ðệm,sư trụ trì:Yết Ma Giống)
  • Phạm Văn Tươi – Ca Minh Chương: Phò loan tại đàn Tân Kim (nhà Hội Ðồng Nguyễn Văn Lai, xã Tân Kim, Cần Giuộc)
  • Nguyễn Thiêng Kim – Phạm Tấn Ðãi: Phò loan tại đàn Long Thành Tự ở gần Chợ Rạch Kiến, Cần Ðước).
  • Huỳnh Văn Mai – Võ Văn Nguyên: Phò loan tại đàn Thủ Ðức (nhà của Ông Ngô Văn Ðiều, gần Chợ Thủ Ðức).
  • Nguyễn Văn Mạnh – Lê Thiện Phước.

Khi lập Pháp Chánh Truyền HTÐ, ba vị Phò loan: Nguyễn Thiêng Kim, Huỳnh Văn Mai, Võ Văn Nguyên không đến dự, nên ba vị nầy không được vào Thập nhị Thời Quân HTÐ. Ðức Chí Tôn phong cho ba vị khác là: Thái Văn Thâu, Lê Thế Vĩnh, Cao Ðức Trọng.

Ngài Cao Ðức Trọng được Ðức Chí Tôn phong sau cùng khi Ðức Chí Tôn bảo Ðức Phạm Hộ Pháp lên Nam Vang mở đạo. Tại Nam vang, Ðức Phạm Hộ Pháp phò loan cùng Ngài Cao Ðức Trọng, để Ðức Chí Tôn giáng thâu môn đệ.

Ngài Cao Ðức Trọng được Ðức Chí Tôn ân phong Tiếp Ðạo ngày 27-7-1927 (âl 29-6-Ðinh Mão).

Thông công: Liên lạc với các Ðấng thiêng liêng qua cơ bút của HTÐ để tham khảo ý kiến hay nhận mệnh lệnh.

Lục thập bát Ðịa cầu: 68 Ðịa cầu, tính từ Ðịa cầu số 68 của nhơn loại đi lên, trong dãy Thất thập nhị Ðịa. Dưới Ðịa cầu số 68 còn 4 quả nữa, gọi là U Minh Ðịa.

Thập Ðiện Diêm Cung: 10 Cung Ðiện của 10 vua Diêm Vương (Thập Ðiện Diêm Vương).

Sở dụng: Cái công dụng quan trọng của nó.

Sao chép đường dẫn

Bài 96: Thầy lập Ðạo nơi cõi Nam nầy là để ban thưởng một nước từ thuở chịu lắm cơn thịnh nộ của Thầy

Tây Ninh (Chùa Gò Kén). Ngày 13-2-1927 (âl 12-1-Ðinh Mão)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI

giáo đạo Nam phương

Thầy đã lập Ðạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu.

Từ tạo Thiên lập Ðịa, chưa nước nào dưới quả Ðịa cầu 68 nầy đặng vậy. Cốt để ban thưởng các con, thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!

Ôi! mà hại thay! thảm thay! đau đớn thay! Hòn ngọc đẹp đẽ quí báu dường nầy, Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng trề nhún.

Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Thầy lại thương con (1)Con: là Bà Nữ Ðầu Sư Hương Thanh. nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con.

Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm lỗi lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm. Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu?

Thầy giữ Nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành. Con là chị, Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ Ðộ chỉ vụ một chữ HÒA, con liệu đứa nên dùng đẹp lòng con, kêu tên cho Thầy phán đoán.

Tr…, con giúp em nghe! Thăng.

Chú thích

Bài Thánh Ngôn 96 trên đây có trong ÐS.I.115 và ÐS.II.215. Phò loan: Hộ Pháp – Thượng Phẩm.

Cuối bài, Bà Nữ Giáo Sư Nguyễn Hương Hiếu (về sau đắc phong Nữ Ðầu Sư ) có dẫn giải, xin chép ra sau đây:

“XIN PHÉP DẪN GIẢI:

Hồi mở Ðạo, chư vị Nữ phái Sài Gòn chưa hiểu Ðạo cho lắm, cũng vì có bổn phận tề gia nội trợ nên sự hành đạo bê trễ, vắng mặt mấy kỳ đàn, nên bị Thầy quở.

Bài Thánh giáo trước đây, Ðức Chí Tôn nói với Bà Nữ Ðầu Sư Hương Thanh, do bài trường thiên của Ðức Phật Bà cho biết Chơn linh Bà Nữ Ðầu Sư Hương Thanh.

Chơn linh Bà Nữ Ðầu Sư Hương Thanh là Long Nữ hầu Ðức Quan Âm Bồ Tát, lúc Bà Long Nữ tình nguyện lãnh lịnh nơi Ngọc Hư Cung, xuống thế độ Nữ phái, Bà Long Nữ hứa với Phật Bà, nên Thầy mới nhứt định dành phần công quả lại cho Bà Nữ Ðầu Sư Lâm Hương Thanh.

Xin xem kỹ câu văn Thầy nói: Một phen lầm lỗi, lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm. Nghĩa là: Thầy định lập Tam Kỳ Phổ Ðộ mười ngàn năm nay, không vì sự lỗi của Nữ phái mà bỏ cho đành.

Nhận xét lòng bác ái của Thầy vô tận vô biên. Thầy quở mà Thầy thương, rồi lại ban thưởng nữa, nên Thầy kêu Bà Nữ Ðầu Sư lập thông qui kêu tên Nữ phái cho Thầy chấm phong.

Tóm lại, nhờ Bà Nữ Ðầu Sư, tất cả Nữ phái có hầu đàn đêm 14 tháng Giêng năm Ðinh Mão ( dl 13-2-1927) đặng thọ phẩm tước hết.

Người giải: Nữ Giáo Sư Hương Hiếu.”

Tr…: Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt.

Cõi Nam: Ý nói nước Việt Nam.

Hòn ngọc đẹp đẽ quí báu dường nầy: Ý nói nền Ðạo quí báu và cao thượng mà Ðức Chí Tôn đem đến cứu độ dân tộc VN và toàn cả nhơn loại trên mặt Ðịa cầu nầy.

Lấy khảo trừ công: Vì có tội, cho nên thay vì bị khảo đảo cho đau đớn khổ sở, thì vì lòng thương, Ðức Chí Tôn không nỡ, chỉ lấy bớt công quả để trừ tội mà thôi. Lấy khảo trừ công đồng nghĩa: Lấy công chuộc tội, Tương công chiết tội.

Phẩm vị Nữ Ðầu Sư là phẩm cao nhứt của Nữ phái CTÐ, nên được xem là Chị lớn của Nữ phái.

Sao chép đường dẫn

Bài 97: Thầy ước sao các con biết tự lập và cho đủ tư cách

Thánh Thất Cầu Kho. Ngày 19-2-1927 (âl 18-1-Ðinh Mão)

THẦY

Các con,

Thầy vì lẽ công mà phong chức sắc cho mỗi đứa cũng là do Tòa Tam Giáo xin, chớ xem lại trong hàng môn đệ đã thọ tước cũng chưa đặng thấy mấy đứa cho xứng đáng.

Vậy các con đứa nào đã được thưởng phong cũng chẳng nên vội mừng mà quên phận sự, còn mấy đứa chưa đặng phong thưởng cũng không nên vội buồn mà thất đạo tâm. Các con hiểu à!

Thầy ước sao các con biết tự lập thì Thầy mới vui lòng, chớ các con nhập môn cho đông, lãnh Thiên phong cho nhiều mà không đủ tư cách thì các con phải tự hỏi mình coi có bổ ích vào đâu chăng?

Hiểu à!

Sao chép đường dẫn

Bài 98: Thánh giáo của Quan Thánh Ðế Quân, Quan Âm và Lý Thái Bạch

Ngày 19-2-1927 (âl 18-1-Ðinh Mão) 

QUAN THÁNH ÐẾ QUÂN

Hỉ chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh.

Quang minh huệ nhãn chiếu càn khôn,

Thánh đức lưu tâm quốc bảo tồn.

Ðế Việt san hà chung hạnh đạt,

Quân tranh thế giới Ðạo khai môn.

QUAN ÂM giáng cơ

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.

Hỉ chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh.

Nam thành Chánh giáo cứu sanh linh,

Hải đức dương chi cải thế tình.

Quan niệm Thiên ân tai ách giải,

Âm phong nhựt tản chiếu đơn đình.

LÝ THÁI BẠCH giáng cơ

Lý Bạch.

Hỉ chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh.

Thái hòa dương thạnh Ðạo nam khai,

Bạch tú Thiên đăng đắc cảm hoài.

Kim tác liên tâm cơ hậu thế,

Tinh thành lộ dẫn chiếu Vân đài.

Chư chúng sanh khá đại tịnh đặng tiếp giá Ðức Từ Bi.

Chú thích

Bài Thi của Ðức Quan Thánh viết ra chữ Hán:

Quang minh huệ nhãn chiếu càn khôn,
光明慧眼照乾坤

Thánh đức lưu tâm quốc bảo tồn.
聖德留心國保存

Ðế Việt san hà chung hạnh đạt,
帝越山河終幸達

Quân tranh thế giới Ðạo khai môn.
君爭世界道開門

GIẢI NGHĨA:

Con mắt trí huệ chiếu sáng Càn khôn thế giới,

Thánh đức lưu tâm bảo tồn quốc gia.

Non nước Việt Nam cuối cùng đạt được hạnh phúc,

Các vua trên thế giới chiến tranh với nhau thì Ðạo mở ra (để cứu nhơn sanh).

Bài Thi của Ðức Quan Âm viết ra chữ Hán:

Nam thành Chánh giáo cứu sanh linh,
南城正敎救生靈

Hải đức dương chi cải thế tình.
海德楊枝改世情

Quan niệm Thiên ân tai ách giải,
觀念天恩災厄解

Âm phong nhựt tản chiếu đơn đình.
音風日散照丹庭

GIẢI NGHĨA:

Nền Chánh giáo tại nước Việt Nam cứu độ sanh linh,

Ðức lớn, cành dương rải nước Cam lồ sửa đổi tình đời.

Quan niệm rằng ơn Trời giải được tai ách,

Tiếng gió, ánh sáng mặt trời tỏa ra chiếu sáng sân chầu vua.

Bài Thi của Ðức Lý Thái Bạch viết ra chữ Hán:

Thái hòa dương thạnh Ðạo nam khai,
太和陽盛道南開

Bạch tú Thiên đăng đắc cảm hoài.
白宿天燈得感懷

Kim tác liên tâm cơ hậu thế,
金作蓮心機後世

Tinh thành lộ dẫn chiếu Vân Ðài
星成路引照雲臺

GIẢI NGHĨA:

Rất hiệp hòa, khí dương thạnh, Ðạo mở ở VN,

Sao Thái Bạch sáng như đèn Trời được mọi người cảm nhớ.

Sao Kim làm cái tâm thành tòa sen cho hậu thế,

Tinh tú thành dẫn đường đến đài vinh quang.

Ðại tịnh: Giữ cái tâm cho hoàn toàn trong sạch.

Tiếp giá: Nghinh tiếp Ðức Chí Tôn.

Ðức Từ Bi: Ý nói Ðức Chí Tôn.

Sao chép đường dẫn

Bài 99: Chí Tôn khuyên lo liệu chấn hưng nền Thánh Giáo và thương yêu giúp lẫn nhau

Ngày 19-2-1927 (âl 18-1-Ðinh Mão)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI

giáo đạo Nam phương

Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ, chư nhu.

Thầy để lời mừng các môn đệ nơi đây có dạ kính thành và lo phận sự mà dìu dắt sanh linh bước vào nẻo chánh.

Ðạo phát trễ một ngày thì nhơn sanh tội lỗi cả muôn ngàn. Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo.

Ðiều Thầy vui hơn hết là muốn cho các con thương yêu giúp lẫn nhau như con một nhà, phải đồng tâm hiệp chí chia vui sớt nhọc cho nhau, nương đỡ dìu dắt nhau, đem lên con đường đạo đức, tránh khỏi bến trần ai khốn đốn nầy, mà cả muôn triệu sanh linh đã chìm đắm vì mồi phú quí, bả vinh hoa.

Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn phàm tục mà bứt hẳn mối tương thân tương ái, thì chẳng phải là đức tánh của tu hành đó. Thăng.

Sao chép đường dẫn

Bài 100: Chí Tôn tiết lộ họa Âu tai Á, sẽ vì nơi Thiên Thơ mà sát phạt gieo thảm cho những giống dân hung bạo

Ngày 20-2-1927 (âl 19-1-Ðinh Mão)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI

giáo đạo Nam phương

Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ, chư chúng sanh.

Chư chúng sanh nghe:

Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hóa đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Ai là khách hữu phần, ai là người vô quả, tánh thiêng liêng đã vì công lý mà ra tay tế độ, vớt kẻ giữa bến trần, khá biết thời thế lần vào nương dựa bóng thái dương, để bước vào con đường minh huệ, tìm suối lặng non Thần, rửa chút bợn nhơ đã vì phong trào mê muội mà cam chịu lấp kín gót trần.

Ta, vì lấy đức háo sanh, mượn giọt từ bi, hội Tam Giáo, mà rưới khắp Càn khôn, để độ rước những bậc Chí Thánh đọa trần trước kỳ Thiên điều hành phạt.

Họa Âu tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt, gieo sầu để thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả Càn khôn nầy.

Ai mau bước đặng gặp mối chánh dẫn truyền mà lần lập công chiết quả, để lánh cả muôn điều phiền não về sau. Chúng sanh khá biết cho! Thăng.

Chú thích

Huyền vi: Huyền là sâu kín, vi là phần tử rất nhỏ. Huyền vi đồng nghĩa huyền diệu. Mối huyền vi: Ðạo Trời.

Vô quả: Không có quả, tức nhiên không có nhân. Vô quả là không có nhân quả. Người vô quả là người không có nhân quả nơi cõi trần nầy, tức là không do luân hồi, mà là người lãnh nhiệm vụ của các Ðấng thiêng liêng xuống trần để cứu độ nhơn sanh.

Thái dương: Mặt Trời. Nương dựa bóng thái dương: Ý nói nương dựa dưới bóng của Ðức Chí Tôn, tức là đem thân vào cửa Ðạo.

Minh huệ: Trí huệ sáng suốt. Con đường minh huệ: Con đường tu hành để đạt được trí huệ, đắc đạo.

Lấp kín gót trần: Sự mê muội, tấm màn vô minh đã phủ kín con người nơi cõi trần, khiến con người càng thêm mê muội. Muốn thoát khỏi vô minh thì chỉ có một con đường duy nhứt là tu hành.

Lập công chiết quả: Làm công quả để lấy công ấy mà trừ nghiệp chướng. Chiết là trừ bớt. Quả là cái kết quả của cái Nhân, Nhân xấu thì gây Nghiệp xấu và tạo Quả xấu.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết