Bài 81: Thánh giáo dạy toàn nam nữ cầu đạo và cho một bài thi chung
Ðàn tại An Hóa, 22-1-1927 (âl 19-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, hỉ các đẳng chúng sanh.
Xứ nầy mới tiếp Thầy lần đầu nên có nhiều đứa còn để lòng nghi hoặc.
Các con cùng Thầy, vì lòng bác ái, chẳng nài khó nhọc đến truyền Chánh đạo, mặc tình những đứa vô lương, các con cứ một đường đi tới, sự phải quấy sau nầy chúng nó sẽ rõ.
Vậy Thầy sẽ vui lòng cùng các con toàn thâu Nam, Nữ.
Tương, con phải nói những điều cần yếu cho chúng nó nghe.
Thầy cho một bài thi chung:
Thế đại Càn khôn cộng nhứt Thiên,
Nhơn như sa mạc tại thâm uyên.
Hạnh phùng bình thủy thân an tại,
Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.
Kỷ tải phàm trần cam nghiệt chướng,
Nhứt thời đạo hạnh thoát oan khiên.
Thùy tri Nam địa sanh phong nhựt,
Ðại Ðạo hoằng khai thế cuộc tuyên.
Cho Nữ phái vô Thầy dạy.
Chư ái nữ, Thầy vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, chẳng phân cao thấp, sang hèn. Thầy chỉ khuyên một điều là đạo hạnh các con phải giữ hằng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là Tứ Ðức đó vậy. Các con hiểu à!
Nền nhơn luân của con nhà Nam Việt chẳng lầm, mà tại các con hay nhiễm thường tình mà hư hoại, nên chi Thầy phải nhắc lại cho các con đừng lầm nữa, nghe các con!
Nam phái vào.
Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng?
Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng?…. Tại vô đạo.
Thầy ban ơn cho các con. Thăng.
Chú thích
Tương: Ngài Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh.
Bài thi đường luật của Ðức Chí Tôn viết ra chữ Hán:
Thế đại Càn khôn cộng nhứt Thiên,
世代乾坤共一天
Nhơn như sa mạc tại thâm uyên.
人如沙漠在深淵
Hạnh phùng bình thủy thân an tại,
幸逢平水身安在
Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.
若遇風波分倒懸
Kỷ tải phàm trần cam nghiệt chướng,
幾載凡塵甘孽障
Nhứt thời đạo hạnh thoát oan khiên.
一時道行脫冤愆
Thùy tri Nam địa sanh phong nhựt,
誰知南地生豐日
Ðại Ðạo hoằng khai thế cuộc tuyên.
大道弘開世局宣
GIẢI NGHĨA:
Ðời đời Càn khôn Thế giới đều cùng chung một Trời.
Con người như hạt cát trong sa mạc tại chỗ sâu thẳm.
May mắn gặp nước yên thì thân được an nhàn tự tại.
Nếu như gặp phong ba thì thân phận bị đảo ngược.
Bao năm ở cõi trần đành chịu nhiều nghiệt chướng,
Một thời tu hành thì thoát khỏi các oan khiên.
Ai biết đất Nam sanh ra thời kỳ thịnh vượng,
Ðại Ðạo hoằng khai, tuyên bố ra cho người đời biết.
Tam Kỳ Phổ Ðộ chẳng phân cao thấp, sang hèn: Trước Ðức Chí Tôn, mọi người đều bình đẳng. Ðức Chí Tôn không phân biệt người có địa vị cao hay thấp, người giàu sang hay nghèo hèn, tất cả đều là con cái yêu mến của Ðức Chí Tôn, mà không chừng Ðức Chí Tôn lại còn thương yêu các đứa con nghèo nàn, dốt nát, thua thiệt, hơn là những đứa con giàu có, khôn ngoan. Chúng ta nghĩ ông cha phàm thế nào thì Ðức Chí Tôn cũng thế đó, nhưng siêu đẳng hơn gấp bội.
Nhơn đạo: Ðạo làm người. Không có tôn giáo nào dạy Nhơn đạo đầy đủ và kỹ bằng Nho giáo. Nói một cách tổng quát, Nhơn đạo của người đàn ông là: Tam Cang và Ngũ Thường; Nhơn đạo của người đàn bà là Tứ Ðức và Tam Tùng.
Tứ Ðức: Bốn đức tánh căn bản của người phụ nữ để làm tăng giá trị của phụ nữ, thời nào cũng vậy, xưa cũng như nay. Tứ Ðức gồm: Công, Dung, Ngôn, Hạnh.
Bài 82: Phải gắng làm trách nhiệm cho hoàn toàn để nâng mình vào địa vị cao thượng về sau
Ngày 22-1-1927 (âl 19-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Tr… Hiền đồ, trương Thiên phục Thầy trấn Thần, con đặng phép mặc hầu Thầy.
Còn N… đợi y phục rồi, sẽ trấn Thần luôn.
Th… nghe Thầy:
Gội nhuần đức trước rạng thôn lân,
Ðạo Thánh dìu chơn bước khởi lần.
Cội bá chờ khi về Cực Lạc,
Màu thiền ấy buổi nhuộm đai cân.
Tranh khoe nguyệt rọi làu sông Vị,
Mây tỏa sương phơi bạc đảnh Tần.
Thành dạ trau gương sanh chúng độ,
Thuyền kề gió lướt thoát mê tân.
Tr…, Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy. Ðường tân khổ lắm vày vò, buổi an nhàn đâu kẻ hưởng, tuồng thế cũng gay go, mà bước trần càng khốn đốn.
Sanh ra phận làm người, đã mang vào mình một trách nhậm đặc biệt, phải gắng sức làm cho hoàn toàn, hầu chờ buổi chung qui tương công chiết tội, tiêu quả tiền khiên, mà nâng mình vào địa vị cao thượng hơn phẩm vô vị chốn sông mê nầy.
Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về, bước sanh ly đã lắm nhuộm màu sầu, mà con đường dục vọng chẳng còn biết đâu là nơi cùng tận.
Lợi danh xạo xự, chung đỉnh mơ màng, cuộc vui vẻ chẳng là bao, mà chốn đọa đày chen chẳng mãn. Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo,thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi.
Ðạo mầu tìm đến, lấy hạnh đức giồi tâm, mượn nâu sồng lánh thế, càng dìu sanh chúng, càng bước bước càng cao, lên tột mây xanh, vẹt ngút trông vào cảnh cực lạc an nhàn, non chiều hạc gáy, động tối qui chầu, ấy là khách Tiên gia lánh khỏi đọa luân hồi nơi cõi thế vậy.
Mau bước gắng tìm đường kẻo rừng chiều bóng xế. Chúng sanh khá biết cho. Thăng.
Chú thích
Tr…: Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung).
N…: Ngài Ðầu Sư Thái Nương Tinh (Dương Văn Nương)
Th…: Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ)
Trương: Giương rộng ra, mở lớn ra rồi đưa lên.
Trấn Thần: Dùng phép huyền diệu của Ðức Chí Tôn để đưa một vị Thần đến trấn giữ, ban rải thanh điển vào vật đó, và gìn giữ vật ấy cho tinh khiết, không cho Tà quái xâm nhập khuấy phá. Thuở đầu tiên mới Khai Ðạo, Ðức Chí Tôn trấn Thần áo và mão của Chức sắc. Nhưng về sau nầy, mỗi khi Chức sắc được thăng phẩm và lập thệ thì áo mão mới sẽ được một vị Thời Quân HTÐ trấn Thần.
Mê tân: Bến mê. Tân là cái bến sông. Sông mê thì có bến mê. Bên nây Biển khổ thì có Bến mê (Mê tân), bên kia Biển khổ là Bờ giác (Giác ngạn). Bến mê là cõi trần, Bờ giác là cõi của người đắc đạo.
Tân khổ: Cay đắng. Tân là cay, khổ là đắng. Tân khổ là chỉ những nỗi vất vả khổ cực ở đời.
Tiêu quả tiền khiên: Tiền khiên là tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước. Tội lỗi nầy tạo thành cái nghiệp xấu ảnh hưởng lên các kết quả của kiếp sống hiện tại. Muốn làm cho tiêu quả tiền khiên nầy thì phải lập công quả để lấy công trừ tội, gọi là Tương công chiết quả.
Phẩm vô vị: Bực phẩm không giá trị.
Dục vọng: Lòng ham muốn mong ước. Cái dục vọng của con người thì không bờ bến, không giới hạn.
Sen tàn cúc rũ: Mùa hạ đã qua, mùa thu cũng đã qua. Bông sen tượng trưng mùa hạ, bông cúc tương trưng mùa thu.
Thỏ lặn ác tà: Trăng lặn và mặt trời chiều. Thỏ là chỉ mặt trăng, ác là con quạ chỉ mặt trời.
Rừng chiều bóng xế: Ý nói lúc tuổi già, gần hết kiếp.
Bài 83: Ðem đạo đức soi gương thì sẽ thấy cảnh an nhàn vui vẻ
Ngày 23-1-1927 (âl 20-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ.
Ch… nghe Thầy:
Hương bay rừng trước nực mùi thung,
Ðạo đức đem về một nẻo chung.
Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,
Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.
Ngày về thức tỉnh trời trưa sớm,
Non rạng an vui cảnh bá tùng.
Chước lánh tìm Tiên đời để dấu,
Gương soi hậu thế rạng nam trung.
Thầy để lời cho con rõ, cảnh vui vẻ về sau của gia quyến con, đạo đức soi gương, đem về chung một nẻo. Dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn, xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế.
Một nhà sau gặp gỡ, ngàn trước vẫn an vui. Ấy là nhứt môn hạnh phúc vậy. Thầy ban ơn các con. Thăng.
Chú thích
Ch…: (?)
Nam trung: Trong giới đàn ông con trai.
Phồn hoa: Nơi dân cư đông đúc, đua chen danh lợi.
Xủ áo phồn hoa: Bỏ chốn danh lợi, lo việc tu hành.
Bài 84: Phải gắng công để rồi sẽ rõ đạo đức làm thang để lên địa vị thanh cao
Ngày 23-1-1927 (âl 20-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ.
Rừng thiền ác xế khuất non Tần,
Vày vã từ đây khỏi nhọc thân.
Bền dạ tua thìn trau đạo Thánh,
Ra công khá gắng đắp nền nhân.
Gặp chiều nhạn trở về rừng trước,
Ðợi lúc thuyền nương lánh bến trần.
Mái tóc sương pha thiều nhặt thúc,
Sanh linh độ dẫn hưởng Thiên ân.
Chiều thu nguyệt xế, non nhạn ngày thâu, lẩn thẩn ngày tháng qua mau, buổi xuân ngoảnh lại đà xa lắc. Nếu chẳng bền lòng theo nẻo chánh mà thoát lối sông mê thì căn quả trả vay, chẳng biết ngày nào tiêu tận đặng.
Non cao suối lặng, tìm đến rửa bụi hồng. Ðạo đức làm thang để lên địa vị thanh cao, lánh khỏi đường tội lỗi, thưởng phạt hai đường, gắng công trình sẽ rõ.
Thầy ban đầy ơn cho các con. Thăng.
Chú thích
Tua thìn: Tua là phải, ý buộc. Thìn là gìn giữ cho bền.
Nền nhân: Nhân là lòng thương người mến vật, thương cả chúng sanh. Nền nhân, ý nói nền Ðạo của Ðức Chí Tôn mở ra cho nhơn sanh tu hành.
Thuyền nương lánh bến trần: Nương theo chiếc thuyền Bát Nhã để rời khỏi cõi trần, đi lên cõi thiêng liêng hằng sống.
Thiều nhặt thúc: Thiều quang nhặt thúc, ý nói ngày giờ qua mau. Thiều quang là ánh sáng đẹp, chỉ ngày giờ, thờigian.
Sông mê: Ðồng nghĩa: Biển khổ (Khổ hải), Bến mê (Mê tân) chỉ cõi trần.
Tiêu tận: Mất hết. Tiêu là mất, tận là hết.
Công trình: Việc quyết tâm lập hạnh gìn giữ giới luật tu hành. Con người thường tự dễ dãi với bản thân mình, cho nên việc giữ đúng giới luật rất khó, phải có lòng dũng cảm, ý chí cương quyết mới thực hiện được. Thường nói: Công phu, Công quả, Công trình, gọi chung là Tam Công.
Bài 85: Gắng chịu khổ giữ lòng đạo đức, lập công quả chờ ngày chung cuộc phục hồi phẩm vị
Ngày 23-1-1927 (âl 20-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ.
N… nghe Thầy:
Ðộng đình trở gót lại ngôi xưa,
Tuổi ấy qui y nhắm đã vừa.
Sân hoạn cùng đường gương ngọc rạng,
Nguồn đào để bước mảnh xuân thưa.
Nhàn chiều nhặt thúc đời vay trả,
Non xế quanh co nẻo lọc lừa.
Khổ hạnh để lòng công quả gắng,
Lánh trần chi nệ nỗi cay chua.
Thầy trước đã sai chư Tiên, Phật dùng huyền diệu mà cho con lòng tín ngưỡng. Ấy là muốn dìu bước đường đạo đức, bắc thang mây để độ con trở hồi ngôi cũ.
Thiên cơ Thầy đã thố lộ nơi Th…, rán xem lấy đó mà liệu trong lúc sau nầy.
Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.
Vậy gắng khổ tâm giữ lòng đạo đức mà vẽ bước cho đời sau, lập công quả đặng chờ ngày chung cuộc, phủi nợ trần ai, đem tấm lòng thiện niệm đến Tam Giáo Ðài mà phục hồi cảnh cũ, rừng vắng non nhàn, suối chảy tòng đưa, lánh chốn đọa đày đã bấy lâu ràng buộc.
Cảnh gia đình phải tiên liệu. Thầy để lời con tua gắng chí, chừng sửa luật phải có mặt nơi Thánh Thất.
Sau nầy con đặng cầm quyền trong bước Ðạo mà dẫn độ sanh chúng nơi đây, là nơi Thầy đã đặng nhiều môn đệ yêu dấu.
Thầy ban ơn cho các con. Thăng.
Chú thích
N…: Ngài Ðầu Sư Thái Nương Tinh, thế danh Dương Văn Nương (1870-1929), Tri Huyện Hàm tại Sađec.
Th…: Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ), sau được thăng lên Thái Ðầu Sư.
Bài Thánh Ngôn nầy Ðức Chí Tôn dạy Ngài Ðầu Sư Thái Nương Tinh. Ðức Chí Tôn nói: “Thiên cơ Thầy đã thố lộ nơi Thơ, rán xem đó mà liệu trong lúc sau nầy.”
Ðó là vì ngày 17-1-1927 (âl 14-12-Bính Dần), tức là trước bài Thánh Ngôn nầy 6 ngày, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau:
ÐS. II. 177: “Thơ, con đừng lo lắng về Chơn thần con lắm vậy nghe… Nhiều phen Thầy nghe con vái, nhưng mà ngày giờ chưa đến nên Thầy chưa nói. Ngày nay Thầy tỏ thiệt cho con hiểu. Con là một chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát. Con đã hiểu rồi, vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau giồi tánh hạnh nghe.
Thầy chẳng nói căn cội của Nương e con giận. Vậy Thầy cũng nói luôn để cho anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành đạo cho tới ngày hai con đến đắc quả đặng trở về cùng Thầy.”
Như vậy, Ngài Thái Thơ Thanh là Chơn linh của Từ Hàng Bồ Tát giáng trần; và Ngài Thái Nương Tinh là Chơn linh của Văn Thù Bồ Tát giáng trần.
Sân hoạn: Trường quan lại.
Nhàn chiều: Nhạn bay về núi vào lúc chiều tối.
Nguồn đào: Ðào nguyên, chỉ cảnh Tiên.
Thang mây: Cái thang bắc lên Trời, cao tận mây.
Hiếm chi: Ý nói có nhiều lắm.
Kim mã ngọc đàng: Chỉ cảnh làm quan vinh hiển.
Thuyền Bát Nhã: Còn gọi là Thuyền sen, Thuyền từ. Người tu khi đạt được trí huệ, tức là đắc đạo, thì ví cái trí huệ ấy như một chiếc thuyền, đưa người tu đến giác ngạn, vào cõi thiêng liêng hằng sống. Bát Nhã là chữ Phạn phiên âm: Prajnâ, nghĩa là trí huệ, cái trí sáng suốt hiểu biết rõ đạo lý.
Tam Giáo Ðài: Tòa Tam Giáo.
Bài 86: Sớm biết phương châm dẫn đường vào nơi Cực Lạc
Ngày 23-1-1927 (âl 20-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ.
H… nghe Thầy:
Thuyền khơi gặp gió cánh buồm trương,
Dìu dắt đạo mầu nẻo chánh nương.
Mùi thế xưa còn lằn bụi trược,
Mạch sầu nay rửa bến sông hương.
Chiều xuân sương tỏa lồng sân hoạn,
Dặm liễu trăng soi rạng bước đường.
Trăm hạnh để lần sanh chúng dẫn,
Non Thần vẹt ngút tới tìm phương.
Ðời thắm thoát, thế gay go, trăm năm thoát qua điều dâu bể, khách trần, hỏi có bao nhiêu kẻ lấy danh phận đem vào cảnh tuyền đài, để nâng mình lên địa vị cao thượng đặng chăng?
Ngày xuân gần mòn mỏi, khá sớm biết trau xuân, ấy là phương châm dẫn đàng khách phồn hoa vào nơi Cực Lạc.
Thầy khen lòng thành kỉnh của con, rán độ dẫn sanh linh, ngôi cựu vị ngày sau chẳng mất. Thầy ban ơn cho gia tộc con.
Thầy ban ơn cả các con. Thăng.
Bài 87: Thánh giáo dạy phải tu mới thoát kiếp luân hồi
Ngày 26-1-1927 (âl 23-12-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư chúng sanh.
Chư chúng sanh nghe:
Thuyền khơi đợi gió lướt dòng ngân,
Dẫn khách Nam qua khỏi bến trần.
Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc,
Trau gươm trí huệ phủi đai cân.
Cơ Trời đến buổi đời thay đổi,
Ðạo Thánh nhằm khi khách gội nhuần.
Khổ hạnh dầu ai thìn một kiếp,
Rừng tòng thoát tục sớm đưa chân.
Ðạo Trời khai ba lượt, khách tục lỗi muôn phần. Khách trần ai vẫn lấy sự vui vẻ vô vị chốn sông mê nầy mà quên trọn các điều đạo đức của các Ðấng Thánh trước Hiền xưa.
Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao. Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu, lấy Thánh đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương.
Cái xuân kia chẳng đợi người mà bước đời càng gay trở, lần qua thỏ lặn ác tà, bóng thiều quang nhặt thúc, con đường hy vọng chẳng biết đâu là tột cùng mà bước đời xem đà mòn mỏi, sự thác vô tình sẽ đến mà vẽ cuộc sanh ly pha màu tử biệt, làm cho sự vui vẻ giàu sang danh vọng đều thành ra một giấc huỳnh lương, rồi đây vĩnh biệt ngàn năm, tội tình muôn kiếp.
Ðài Nghiệt Cảnh là nơi rọi sáng các việc lỗi lầm, bước luân hồi sẽ dẫn vào nơi u khổ cùng sầu mà đọa đày đời đời kiếp kiếp. Ấy là buổi chung qui của khách trần đó.
Nguồn Tiên, đạo Thánh dìu bước nhơn sanh tránh tội lỗi, lìa nẻo vạy, bước đường ngay, mà lần vào nơi Cực Lạc an nhàn, rừng tòng suối lặng, động thẳm non xanh, để mình vào bực thanh cao, thoát khỏi chốn luân hồi ràng buộc. Ai mau bước đặng nhờ thân, ai luyến trần cam chịu khổn.
Ðạo Trời mầu nhiệm, khá biết xét mình, sau khỏi điều tự hối. Chúng sanh khá biết cho.
Chú thích
Dòng ngân: Dòng sông Ngân Hà trên cõi thiêng liêng. Ðây là dòng sông đau khổ chia cách tình yêu của vợ chồng Ngưu Lang-Chức Nữ, nên nó cũng là biển khổ. Trên dòng Ngân Hà nầy có chiếc thuyền Bát Nhã đậu ở ngoài khơi (Thuyền khơi) chờ rước khách trần đầy đủ công đức trở về ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng. Cho nên trong Kinh Giải Oan có câu: “Chèo thuyền Bát Nhã Ngân Hà độ sanh.”
Khách Nam: Khách trần là những người Việt Nam.
Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc: Ý nói: Phế việc đời, gắng chí tu hành thì đắc đạo, được về ở nơi cõi CLTG.
Trau gương trí huệ phủi đai cân: Rời bỏ công danh phú quí, lo việc tu hành để đạt được trí huệ, tức là đắc đạo.
Trần ai: Trần là bụi, ai cũng là bụi. Trần ai là cõi trần.
Nợ mảnh hình hài: Các món nợ mà thể xác phàm phải mang là: Nợ cha mẹ nuôi dưỡng, nợ đất nước, nợ xã hội.
Hành tàng vô nghĩa: Những việc làm lộ rõ ra hay còn ẩn kín không ích lợi gì cho ai hết, chỉ để thỏa lòng ích kỷ.
Ái mộ bất lương: Lòng ưa thích xấu xa.
Cái xuân kia chẳng đợi người: Cái tuổi trẻ hăng hái khỏe mạnh chẳng đợi ai hết, cứ đi qua theo định luật tự nhiên.
Sự thác vô tình: Sự chết không có tình cảm tư vị ai hết, tới số thì chết, không thể dùng tình yêu để năn nỉ cho lâu chết, hay dùng tiền bạc lo lót cho đừng chết.
Tử biệt sanh ly: Hai nỗi đau khổ: Chết thì vĩnh biệt, còn sống mà xa cách nhau.
U khổ cùng sầu: Chỗ tối tăm, khổ sở, buồn rầu vô cùng.
Bài 88: Ráng công thêm nữa để đi cho cùng bước đường
Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê văn Trung) . Ngày 31-1-1927 (âl 28-12-Bính Dần)
THẦY
Các con,
Ngày qua thấm thoát, nhặt thúc bóng quang âm, xuân mãn kế xuân về, nước non màu cũng vẫn như xưa mà tâm hạnh nhơn tình biết bao thay đổi.
Một xuân qua tức là Ðạo một lần bước chóng. Ngày nầy năm ngoái vẫn ra sao mà đến ngày nay, màn Chánh giáo đã diềm dà xủ khuất bóng trần, gương trí huệ rạng ngần soi khách tục.
Thầy mầng cho các con đã chịu lao tâm tiêu tứ mà vun đắp nền Ðạo, làm cho mối tương thân tương ái càng khắn khít vững bền, rán công thêm nữa mà đi cho cùng bước đường của các con đã chịu lắm nhọc nhằn, vạch lối chông gai, dìu chơn hậu tấn.
Môn đệ nơi đây mảng buộc ràng nhơn sự mà hiệp chẳng đủ nghe Thánh ý. Vì vậy mà Lý Thái Bạch định cho làm đại lễ nơi Thánh Thất Cầu Kho cho các môn đệ đó có thế hầu đàn đủ mặt.
T…, con cũng nên tới chứng đàn và chung cùng mấy em, chư môn đệ cũng vậy.
Bài 89: Thánh giáo dạy phải lưu tâm chấn hưng nền Ðạo
Thánh Thất Cầu Kho, 1-2-1927 (âl 29-12-B.Dần). Cuối năm Bính Dần, đêm nay Giao thừa, mai là mùng 1 Tết Ð.Mão
THẦY
Các con,
Thầy lấy làm không bằng lòng cho mấy đứa vắng mặt hôm nay.
Ngày giờ thôi thúc mà các con còn dụ dự giữa chừng. Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.
Kiếp trần ai lắm nỗi vày vò, các con ở nhằm thời đại nầy, đặng lắm cuộc tân toan, nên mới để ý vào đường đạo đức. Nếu chẳng vậy thì các con cũng đã như ai, đem thân vùi dập trong chốn lợi quyền, tranh tranh cạnh cạnh, biết ngày nào rồi?
Ấy vậy, các con phải lưu tâm mà chấn hưng mối Ðạo, ấy là kế bảo tồn quốc túy, lại là phương thoát tục.
Cơ Trời, Thầy không lẽ tỏ ra đây, song các con nên biết xét mình là đứng vào địa vị tối cao hơn muôn vật, nên các con phải có trí độ phi phàm, thì mới có đủ tư cách làm người.
Các con nên biết, Thầy sanh ra mỗi chủng tộc đều có đặc biệt một phần linh diệu riêng, mà cũng vì nhơn loại không chịu khó tìm tòi cho ra lẽ thiên nhiên, cứ thấy những điều cận lợi mà quên hẳn lương tâm, chẳng hay thương mà hay chém giết lẫn nhau, sanh phương tiện thông đồng không muốn, lại tìm kế sát hại nhau.
Nếu các con vì Ðạo Thầy là Ðạo gìn công lý mà biết mấy sự đó tránh đi, và rủ nhau hiệp làm mối Ðại đồng, thì chẳng những thuận lòng Trời mà nhân loại đặng gội nhuần ân huệ. Các con hiểu à!
Chú thích
Thánh Thất Cầu Kho: Ông Ðoàn Văn Bản làm Ðốc học (Hiệu trưởng) trường Tiểu Học Cầu Kho (nay là trường Tiểu học Trần Hưng Ðạo). Tư gia của Ông khá rộng, ở cạnh trường, số nhà 42 Général Leman (nay là đường Cao Bá Nhạ), được Ðạo mượn dùng làm Thánh Thất thờ Ðức Chí Tôn, lập đàn cầu cơ, thâu nhận môn đệ. Phò loan tại đây là hai Ngài: Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Ðức.
Quốc túy: Cái tinh hoa đặc sắc của một nước.
Chấn hưng mối Ðạo là kế bảo tồn quốc túy, lại là phương thoát tục: Ðất nước Việt Nam, dân tộc VN, được Ðức Chí Tôn lựa chọn để mở Ðạo, ngoài những mục tiêu cao cả của Ðạo Cao Ðài, dân tộc VN nhờ mối Ðạo nầy mà sẽ đạt được 3 điều sau đây:
- Bảo tồn được quốc túy.
- Làm chủ tinh thần của nhơn loại.
- Nhiều người VN sẽ đắc đạo thành Tiên, Phật.
Bài 90: Thánh giáo khen nhiều Chức Sắc và phong thưởng
Tây Ninh, 2-2-1927 (âl 1-1-Ðinh Mão): Tết Ð. Mão
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Các con, … Mừng các con.
Trung, Cư, Tắc, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào? Còn nay thế nào chăng?
Trịnh Thị Ái Nữ, Hiếu, hai con đã thấy Thầy giữ lời hứa thế nào chăng?
Thầy lập Ðạo năm rồi ngày nầy thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa, mà 4 đứa đã rơi vào tay Chúa Quỉ, chỉ còn lại 8. Trong 8 đứa thì lại còn một đôi đứa biếng nhác mà không hành đạo.
Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dầu cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa, cũng chưa có phương chi độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có 6 đứa môn đệ trong một năm cho đặng bao giờ.
Thầy vui mừng, Thầy khen tặng hết thảy bốn muôn môn đệ của Thầy.
Thơ, con đã ngoan đạo, mà sự ngoan đạo của con đó còn độ lắm kẻ. Thầy khen con.
Bính, Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối Sư. Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải.
Bản, Thầy thăng chức Giáo Sư.
Trò, Thầy cho lên chức Giáo Hữu.
Nhiều đứa khác nữa, ngày mùng 9, Thầy biểu đòi về cho Thái Bạch phong thưởng.
Thầy ban ơn trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy.
Thầy giở cơ lên, các con đều chun ngang qua cho Thầy ban Phép Lành.
Thầy cầu cho các con đặng ngoan đạo như Thơ vậy, sửa mình cho nên Chí Thánh, vì Ðạo năm nay sẽ rõ thấu hoàn cầu, môn đệ tăng thêm hằng hà sa số, phận sự các con lại càng nặng nề hơn nữa, nhưng các con nhớ biết thương Thầy, mà hễ thương Thầy thì ắt thương Ðạo, mà hễ thương Ðạo thì thương hết chúng sanh. Các con biết Thầy là trọng thì biết trọng Ðạo, mà hễ trọng Ðạo thì cũng phải trọng cả chúng sanh.
Trong tháng Giêng nầy, Thái Bạch sẽ hội Nữ phái đặng lập cho hoàn toàn. Thầy trông công các con lắm đó.
Thầy ban ơn cho các con một lần nữa. Thầy thăng.
Chú thích
Trung: Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt.
Cư: Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.
Tắc: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
Trịnh Thị Ái nữ: Bà Trịnh thị Huệ, thân mẫu của Ngài Cao Q. Cư, đắc phong Nữ Giáo Sư, Thánh danh Hương Huệ.
Hiếu: Bà Nguyễn Thị Hiếu, hiền thê của Ngài Cao Quỳnh Cư, đắc phong Nữ Giáo Sư trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần I, về sau được thăng lên Nữ Ðầu Sư, Thánh danh Hương Hiếu.
Thơ: Ngài Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh (Nguyễn Ngọc Thơ), sau được thăng Thái Ðầu Sư.
Bính: Ngài Giáo Sư Thái Bính Thanh (Lâm Quang Bính), nay được thăng lên Thái Phối Sư. Ngài là người được Ðức Chí Tôn giao cho làm Quả Càn Khôn để thờ nơi BQÐ.
Bản: Giáo Hữu Thượng Bản Thanh (Ðốc học Ðoàn Văn Bản) nay được thăng lên phẩm Giáo Sư.
Trò: Lễ Sanh Nguyễn Văn Trò, nay được Ðức Chí Tôn thăng lên Giáo Hữu.
Tết năm trước, tức là Tết Bính Dần, Ðức Chí Tôn điểm danh 12 môn đệ đầu tiên. (Xin xem lại Chú thích bài Thánh Ngôn 1)
Tết năm nay là Tết Ðinh Mão, Ðức Chí Tôn nói: Nhờ tay có 6 môn đệ lo hành đạo trong một năm mà phổ độ được hơn 40.000 tín đồ. Xin kể tên 6 vị môn đệ nầy ra sau đây:
- Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt.
- Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
- Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.
- Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.
- Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức.
- Ngài Giáo Sư Thượng Bản Thanh.
Trong bài Thánh Ngôn nầy, Ðức Chí Tôn lần đầu tiên ban Phép Lành cho các môn đệ.