Bài 61: Thánh giáo dạy nếu biết Đạo thì phải trọng Đạo…
Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê văn Trung). Ngày 13-12-1926 (âl 9-11-Bính Dần)
THẦY
Các con,
Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quí thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.
Vậy Thầy khuyên các con rán thành tâm hành đạo, mà Ðạo không phải giữ bằng lỗ miệng không đâu.
Thầy thấy nhiều đứa trong các con có ý theo Ðạo đặng toan kế làm nhiều việc chẳng lành. Thầy vì thương nhơn loại, muốn cứu hết nên thường thâu thập nhiều đứa vô tâm, cũng muốn cho chúng nó ăn năn chừa lỗi, ngõ hầu hưởng phước, mà chúng nó không biết tự hối thì làm sao mong rỗi đặng. Ðến buổi chung qui mới thấy Thiên đàng, Ðịa ngục thì đã muộn rồi.
Các con phải xét mình cho lắm nghe!
Bài 62: Phải vì chúng sanh, khổ tâm hành đạo mới đắc vị thiêng liêng
Ngày 14-12-1926 (âl 10-11-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ, chư nhu.
Th… nghe Thầy con:
Thanh nhàn muốn vẹn buổi chung qui,
Giáo hóa nhân sanh đức phải vì.
Bước thế chịu đày khơi bạch phát,
Nguồn Tiên rán lướt rạng thanh mi.
Nâu sồng tánh gội dành trăm tuổi,
Chung đỉnh đường qua trót một thì.
Gương sáng phước Trời soi hậu tấn,
Chờ xuân khải chiết đắc mai chi.
Từ đây, Thầy là Ðứng cầm quyền thế giới, đã vì con mà độ dẫn con lại cảnh thanh nhàn cực lạc.
Vậy rán giồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hóa đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.
Công quả tuy nhọc nhằn, nhưng địa vị cao thượng cũng chẳng phải dễ đoạt được. Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng, tránh điều phiền não, thoát đọa luân hồi, mới có lúc rảnh nợ phong trần, nhàn xem sự thế, non cao suối lặng, động mát rừng thanh, là chỗ con lấy đạo đức làm thang để bước lên cho cùng tột.
Khá gắng nghe và hành trình liệu bước.
Chư nhu cũng tùy đó mà sửa bước. Nhơn sanh phải thiện tâm và hết lòng vì đạo đức mới đặng Thần, Thánh chứng minh, mới có thấy ngày kết quả đặng.
Thầy vì đức háo sanh nên thâu thập nhiều đứa lương tâm chưa chánh đáng, là Thánh ý để cho chúng nó qui chánh cải tà, nhưng thói phàm tục lung lăng chẳng dứt.
Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập Ðạo thì đã để cho chư Thần, Thánh hành hình nặng nề chẳng xiết kể.
Biển khổ đã lắm nổi chìm, mà nhành dương liễu chẳng mau vói níu, đọa trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau. Khá hiểu lấy. Thăng.
Chú thích
Th…: Ngài Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh ( Nguyễn Ngọc Thơ).
Bạch phát: Tóc bạc. Phát là tóc, bạch là trắng.
Nguồn Tiên: đồng nghĩa Nguồn Thánh, ý nói một nền đạo đức cao siêu huyền diệu.
Thanh mi: Mày xanh, chỉ tuổi trẻ.
Chung đỉnh: Cái chuông và cái vạc, ý nói giàu sang.
Nâu sồng: Màu nâu và màu sồng là 2 màu quần áo của tăng ni Phật tử. Nâu sồng là chỉ sự tu hành.
Khải chiết đắc mai chi: Vui vẻ bẻ được cành mai, ý nói đắc thắng. Câu 8 của bài thơ: Chờ tới mùa xuân thì đắc thắng.
Ðứng: Ðấng thiêng liêng.
Dãi dầu sương mơi nắng xế: Phơi mình ra chịu đựng sương sáng nắng chiều, ý nói chịu nhiều vất vả khổ cực.
Bậc phẩm vô vị: Thứ bậc và phẩm tước không giá trị.
Bất tận: Không hết, không dứt. Tận là hết, dứt.
Phong trần: Gió bụi, chỉ những nỗi vất vả ở đời.
Non cao suối lặng, động mát rừng thanh: Chỉ cảnh đẹp đẽ thanh nhã, ấy là cảnh Tiên.
Qui chánh cải tà: Trở về điều Chánh, sửa đổi điều Tà.
Tình tội: Tội tình, tội lỗi phạm phải.
Nhành dương liễu: Cành cây dương liễu dùng để Ðức Quan Âm Bồ Tát rải nước Cam Lồ, ý nói sự cứu vớt chúng sanh của Ðức Quan Âm Bồ Tát.
Bài 63: Thánh giáo Pháp văn cho đạo hữu người Pháp
Thứ tư, 15-12-1926 (âl 11-11-Bính Dần)
THÁI BẠCH
Hỉ chư Ðạo hữu, chư nhu, chư tín nữ.
Chỉnh đàn cho nghiêm đặng Thầy ngự.
Qu’on dise à ces Francais qu’ici est une Maison de Prières, qu’il ne faut pas qu’ils la considèrent comme une curiosité.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
M… debout et lis.
Toute chose vient à son heure.
Tu as vu et su ce que la plupart de tes compatriotes cherchent à voir et à savoir. Ce n’est qu’à la suite de la conclusion des recherches spirites que J’enseigne cette Nouvelle Doctrine.
N’ai-Je pas prédit que le Spiritisme est une religion d’avenir? Tu as naturellement l’intention de créer en ce pays une relation morale des deux races Français et Annamite appelées à vivre ensemble par ma volonté dans une communauté de vie et d’intérêts.
Tu seras satisfait par une vie d’un homme de bien. Tes voeux seront exaucés. Tu seras plus tard un de mes fervents disciples pour prêcher au monde la paix et la concorde.
L’équipe Francais sera bientôt créée.
Tu seras forcé de revenir en France en 1928, pour soutenir cette Doctrine au Congrès Universel. Tu seras grand et puissant par ma volonté.
Au revoir. C’est assez pour toi.
Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:
THÁI BẠCH
Hỉ chư đạo hữu, chư nhu, chư tín nữ.
Chỉnh đàn cho nghiêm đặng Thầy ngự.
Nói với mấy người Lang-sa rằng, đây là Thánh Thất (Nhà nguyện), không nên xem đây như là một sự hiếu kỳ.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
M…, hãy đứng dậy và đọc.
Mọi việc đều đúng giờ đã định.
Con đã thấy và hiểu những điều mà phần đông đồng bào của con đang tìm hiểu. Chỉ sau nhiều cuộc khảo cứu và sưu tầm về Thần Linh Học mà Thầy đem truyền nền Ðạo lý mới mẻ nầy.
Thầy há chẳng có lời tiên tri rằng Thần Linh Học là một nền đạo tương lai sao?
Hẳn nhiên con đã thành tâm thật ý muốn gây tại xứ nầy tình liên lạc tinh thần giữa hai dân tộc Pháp – Việt mà Thầy chí quyết cho họ được chung sống trong cộng đồng quyền lợi và sinh hoạt.
Con sẽ đắc kỳ sở nguyện của một người làm phải. Lời khẩn nguyện của con sẽ được chấp thuận. Sau nầy, con sẽ là một trong các môn đồ trung thành của Thầy để đi truyền bá hòa bình và tương ái trên khắp hoàn cầu.
Ban Truyền giáo Pháp sẽ được thành lập gần đây.
Con cần phải về Pháp trong năm 1928 để binh vực Giáo lý của Thầy tại Hội Nghị Ðại Ðồng Tôn giáo. Con sẽ trọng đại và đủ quyền năng do Thiên ý.
Bấy nhiêu cho con rõ. Thầy từ giã.
Chú thích
Bài TN Pháp văn nầy có trong ÐS.II.93.
M…: Ông Marcel Martin, 135 rue Catinat, Saigon.
Thần Linh Học (Spiritisme): là khoa học nghiên cứu về cách thông công giữa con người hữu hình với các Ðấng vô hình, để chứng minh rằng có sự hiện hữu của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và sự hiện hữu của Thượng Ðế, tức nhiên có sự hiện hữu của linh hồn. Con người khi thể xác chết đi, không phải là hết, mà còn có linh hồn. Linh hồn xuất ra khỏi thể xác để chuyển qua sống trong thế giới vô hình. Chính vô hình điều khiển thế giới hữu hình.
Thần Linh Học Thế giới khởi đầu xuất hiện ở nước Mỹ năm 1847, tại New York gây được sự chú ý của nhiều giới.
Năm 1852, một Hội Nghị Thần Linh Học đầu tiên được tổ chức tại Cleveland.
Năm 1854, số người theo Thần Linh Học ở Mỹ đến 3 triệu người, trong đó có hơn 1000 đồng tử.
Từ năm 1852 đã có một phái đoàn Thần Linh Học từ Mỹ sang truyền bá nơi nước Anh, gây được một phong trào Thần Linh Học mạnh mẽ ở nước Anh.
Năm 1853, một nhóm Thần Linh Học khác sang nước Pháp và Ðức, cũng gây được phong trào Thần Linh Học đáng kể ở 2 nước nầy. Hai Ông Chevreul và Faraday ở Hàn Lâm Viện Pháp cầm đầu một nhóm đả phá dữ dội Thần Linh Học, nhưng không kết quả. Bà Giradin, một đồng tử Thần Linh Học Pháp giúp Văn hào Victor Hugo thông công được các Ðấng Vô hình trong lúc Victor Hugo đang tỵ nạn chánh trị tại đảo Jersey thuộc Anh. Những bài Thánh giáo được Victor Hugo tập hợp thành quyển sách nhan đề: Les tables tournantes de Jersey chez Victor Hugo.
Giáo sư Charles Richets tại Ðại học Sorbonne Paris, sau nhiều năm nghiên cứu Thần Linh Học, cho xuất bản quyển sách: Traité de Métaphysique.
Năm 1853, Allan Kardec lập thành học thuyết Thần Linh Học với 2 tác phẩm: Le livre des Esprits, và Le livre des médiums.
Nhờ đó, Thần Linh Học được truyền bá khắp thế giới.
Bài 64: Thánh giáo Pháp văn cho đạo hữu người Pháp
Thứ sáu, 17-12-1926 (âl 13-11-Bính Dần)
THÁI BẠCH
M… D… est prié d’attendre la venue du Divin Maitre.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
DIEU TOUT-PUISSANT qui vient sous le nom de CAO ÐÀI
pour enseigner la Vérité en Annam
D… debout et lis.
Je tiens à te dire que rien ne se créé et n’existe sur ce globe sans ma volonté.
De pauvres esprits prétendent qu’ils sont dans le secret de Dieu. Or, Je ne donne à nul humain ici-bas d’en faire la révélation.
Pour venir à Moi, il faut des prières. Je ne néglige pas à me manifester quand ces prières sont sincères.
Il suffit, pour vous convaincre ce que Je suis bien Jéhovah des Hébreux, le Dieu des Armées des Israélites, le Dieu inconnu des Juifs et le Vrai Père de Jésus Christ, de me prier ce prête-nom CAO ÐÀI pour que vos voeux soient exaucés.
Tu viens à Moi avec un sentiment sincère pour bien faire aux peuples soumis qui te sont confiés.
Je te prie alors de propager cette Doctrine à tous les protégés.
C’est la seule qui maintient l’humanité dans l’a-mour des créatures et vous apporte une paix durable.
Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:
THÁI BẠCH
M… D…, hãy chờ Ðức Chí Tôn đến.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
THƯỢNG ÐẾ TOÀN NĂNG giáng thế tá danh CAO ÐÀI
truyền Chơn lý tại Việt Nam
D… hãy đứng dậy và đọc.
Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy thì trên quả địa cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả.
Lại có lắm kẻ đáng thương hại tự phụ rằng, họ hiểu thấu cả lẽ mầu nhiệm của Ðấng Tạo hóa. Nhưng Thầy không bao giờ cho một kẻ nào dưới cõi trần nầy tiết lậu Thiên cơ cả.
Muốn đến Thầy thì phải cầu nguyện. Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn thành.
Như thế đủ chứng tỏ cho con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux, vị chủ tể của quân lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do Thái, vị Ðại Từ Phụ của Chúa Jésus Cứu Thế, con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu CAO ÐÀI thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận.
Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục thiện hiện đang giao phó cho con.
Vậy Thầy nhờ con truyền bá Giáo lý nầy cho dân tộc đặt dưới quyền bảo hộ của con.
Chỉ có cách đó mới có thể kềm giữ nhơn loại trong tình yêu sanh chúng và đem lại cho con một cuộc đời hòa bình bền bỉ.
Chú thích
M… D…: Monsieur Dauplay.
D…: Dauplay.
Hébreux: Dân Hébreux là nòi giống của Abraham, là tổ tiên của người Do Thái ngày nay.
Israel: tên của nước Do Thái, gọi bằng tiếng Pháp.
Tiết lậu Thiên cơ: Nói ra cho người khác biết việc bí mật của máy Trời.
Bảo hộ: Người Pháp đến cai trị nước ta xuyên qua chánh quyền Việt Nam do Pháp dựng lên đặng làm bù nhìn cho Pháp.
Bài 65: Sự chuyển kiếp của con người và của tà quái. Nếu không tu hành thì không khỏi luân hồi.v.v…
Chúa nhựt, 19-12-1926 (âl 15-11-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Các con nghe:
Một sự các con chưa hề biết đến, đặng hiểu Ðạo quí trọng là dường nào, lo tu tâm dưỡng tánh.
Các con đã sanh ra tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy.
Thầy hỏi: Các con chết rồi các con ra thế nào? Các con đi đâu?
Chẳng một đứa nào hiểu đặng cơ mầu nhiệm ấy. Thầy dạy:
Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.
Nhơn phẩm nơi thế nầy lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng. Ðứng bực đế vương nơi trái Ðịa cầu nầy, chưa đặng vào bực chót của Ðịa cầu 67. Trong Ðịa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy.
Cái quí trọng của mỗi Ðịa cầu càng tăng thêm hoài cho tới Ðệ nhứt Cầu, Tam thiên Thế giái. Qua khỏi Tam thiên Thế giới thì mới đến Tứ Ðại Bộ Châu. Qua Tứ Ðại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục Thiên. Vào Tam thập lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng lên đến Bạch Ngọc Kinh, là nơi đạo Phật gọi là Niết Bàn đó vậy.
Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con nó nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị.
Còn phẩm trật Quỉ vị cũng như thế ấy. Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỉ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đọa các con, hành hài các con, xử trị các con. Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.
Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý. Luật công bình thiêng liêng buộc phải vậy. Thầy lắm phen bị mất, bị giựt con cái của Thầy vì chúng nó.
Thầy đã chỉ rõ hai nẻo Tà Chánh, sang hèn rồi, vậy Thầy cũng chỉ phương hướng cho các con đi cho khỏi lầm lạc.
Các con hiểu rằng, trong Tam thiên Thế giới còn có Quỉ mị chuyển kiếp ở lộn cùng các con thay, huống lựa là Thất thập nhị Ðịa nầy, sao không có cho đặng?
Hại thay! Lũ quỉ là phần nhiều. Nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con.
Vì vậy Thầy đã nói tiên tri rằng:
Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, lại hằng ngày xúi biểu nó cắn xé các con, song Thầy cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng, là đạo đức các con.
Ấy vậy, đạo đức các con là phương pháp khử trừ Quỉ mị, lại cũng là phương dìu dắt các con trở lại cùng Thầy.
Các con không đạo thì là tôi tớ Quỉ mị.
Thầy đã nói đạo đức cũng như một cái thang vô ngằn, bắc cho các con leo đến phẩm vị tối cao tối trọng là ngang bực cùng Thầy, hay là Thầy còn hạ mình cho các con cao hơn nữa.
Vậy Thầy lại dặn các con: Nếu kẻ không tu, làm đủ phận người, công bình chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa, thì biết chừng nào đặng hội hiệp cùng Thầy.
Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng, mà hại thay! mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh hoan lạc thấy đặng kẻ ấy.
Vậy Thầy dặn: Ðạo là nơi các con nên quí trọng đó vậy.
Chú thích
Thất thập nhị Ðịa: 72 Ðịa cầu. Các quả Ðịa cầu nầy được đánh số để gọi từ cao xuống thấp. Ðịa cầu ở cao nhất tức là thanh nhẹ nhất là Ðệ nhứt cầu (Ðịa cầu số 1), Ðịa cầu ở thấp nhất (trọng trược nhất) là Ðịa cầu số 72. Ðịa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Ðịa cầu số 68.
Tam thiên Thế giới: 3000 Thế giới. Tam thiên Thế giới ở bên trên Thất thập nhị Ðịa, nên rất thanh nhẹ.
Tứ Ðại Bộ Châu: Bốn Bộ Châu lớn. Ðây là Tứ Ðại Bộ Châu Thượng của Tam thiên Thế giới, gồm: Ðông Ðại Bộ Châu, Nam Ðại Bộ Châu, Tây Ðại Bộ Châu, và Bắc Ðại Bộ Châu. Tứ Ðại Bộ Châu Thượng nằm trên và quản lý Tam thiên Thế giới. Ngoài ra Thất thập nhị Ðịa cũng có Tứ Ðại Bộ Châu nữa, gọi Tứ Ðại Bộ Châu Hạ, nằm trên và quản lý Thất thập nhị Ðịa. Tứ Ðại Bộ Châu Hạ gồm: Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Cu Lư Châu. Ðịa cầu 68 của chúng ta thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.
Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý: Ðây là luật công bình thiêng liêng. Hễ có Chánh thì phải có Tà; có Tiên Phật thì có Quỉ Ma; có Thiên đường thì có Ðịa ngục; hễ có Dương thì phải có Âm. Hai thế lực ấy phải cân bằng nhau, để thúc đẩy sự vận chuyển tiến hóa trong CKVT.
Cải Tà qui Chánh là tiến hóa, ngược lại, từ Chánh qua Tà là thoái hóa. Mỗi người nơi cõi trần đều trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài, đi từ vật chất lên thảo mộc, lên thú cầm, rồi tiến hóa thành nhơn loại. Mỗi một kiếp luân hồi là một lần tiến hóa. Con người còn phải tiến hóa lên Thần, Thánh, Tiên, Phật. Muốn tiến hóa nhanh vượt bực thì phải tu hành. Trong một kiếp tu có thể đạt được Phật vị. Nếu không tu thì sự tiến hóa rất chậm, còn nếu làm ác thì bị thoái hóa.
Bài 66: Thánh giáo Pháp văn cho chư đạo hữu biết Pháp văn nói về giá trị của sự giàu sang, danh vọng
Chúa nhựt, 19-12-1926 (âl 15-11-Bính Dần)
THẦY
Các con,
Các con phần nhiều biết tiếng Lang sa.
Thầy dùng nói cho các con dễ hiểu đạo lý.
Qu’est-ce que la noblesse, la richesse, la gloire?
La noblesse est l’ensemble de titres plus ou moins énivrants décernés aux hommes par les hommes.
Quelle est la valeur de ces titres?
N’est-ce pas suivant la valeur de ceux qui donnent?
Donnés par un humain, ils ne sont que trop humains.
Ce qui vient d’un homme n’a rien de résistant.
C’est sujet à détérioration. Ils sont détruits dès qu’on enlève la vie de celui qui les détient.
Cherchez la noblesse céleste, c’est la seule éternelle.
La richesse est ensemble de toute préciosité qu’on amasse en ce monde.
Que comprend-elle?
L’or, l’argent, la pourpre, la soierie, etc . . .
L’or, l’argent ne sont que simples métaux.
La pourpre n’est que couleur.
La soierie n’est que matière animale.
Prenez-vous toutes ces choses en vraies richesses?
Elle ne sont qu’insignifiantes d’après leur provenance.
Cherchez, vous autres, la richesse en la Vertu de Dieu. C’est la seule que vous aurez éternellement ; nul ne pourra vous la dérober.
La gloire est souvent contre la vertu. Elle est éphémère. Elle provient souvent de la fourberie.
La gloire de Dieu est la seule qui résiste à toutes épreuves.
(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng la noblesse, la richesse et la gloire de Dieu?)
Thầy trả lời: TU.
Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:
THẦY
Các con,
Các con phần nhiều biết tiếng Lang sa.
Thầy dùng nói cho các con dễ hiểu đạo lý.
Phẩm tước là gì? Của cải, danh vọng là gì?
Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rủ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức tước ấy do người đời tạo ra phong thưởng kẻ khác.
Giá trị của các chức tước ấy ra sao?
Giá trị những chức tước ấy tùy theo mà tạo nó ra.
Việc chi do người đều phàm cả.
Nó không bền, thường thường bị hư hỏng và tiêu tan ngay sau khi người đã được nó tặng bị cướp mất sự sống.
Các con hãy tìm tước phẩm nơi cõi thiêng liêng, tước phẩm ấy mới là vĩnh viễn.
Còn tài sản là tổng quát các vật quí giá của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy.
Của cải ấy gồm những gì?
Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường.
Hồng là một chất màu.
Còn lụa là chất do loài vật cấu thành ra.
Các con xem của ấy là quí giá thật sự sao?
Xét từ nơi sản xuất các vật ấy đều không đáng kể.
Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quí ấy không ai ăn cướp đặng cả.
Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.
Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nổi bao sự thử thách.
(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước, của cải và danh vọng của Trời?)
Thầy trả lời: TU.
Bài 67: Thánh giáo dạy về việc Tân Luật
Ðại Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê văn Trung). Ngày 20-12-1926 (âl 16-11-Bính Dần)
THẦY
Các con,
Chư môn đệ nghe:
Thầy đã muốn cho hoàn toàn phải cần có luật, mà hễ có luật thì cần phải do theo đó mà hành đạo mới khỏi điều sơ thất đặng.
Nhiều đứa nhờ công quả chút ít mà đặng Thầy trọng dụng, là có ý để cho chúng nó đặng vui lòng mà bước tới, dè đâu đã chẳng trông sợ nơi lịnh Thầy, lại lấy ý riêng mà làm cho có lời kích bác trong đạo. Thầy hỏi: Có đáng tội chăng?
Nếu Thầy chẳng lấy đức từ bi mà dìu dắt các con thì chư Thần, Thánh đã phạt mấy đứa ấy cách nặng nề hơn nữa. Các con khá liệu mà hành đạo.
Chư nhu nghe:
Ðạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Ðạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào con đường Cực Lạc, thoát đọa Tam đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt cuộc lại ăn năn vô ích.
Ta vì thương xót sanh linh, mở Ðạo Tam Kỳ để độ người hữu phước. Nếu chẳng mau chân, ngày giờ hầu cận, chư Tiên, Phật hội Tam Giáo xin bế lại thì dầu Ta muốn cứu vớt thêm cũng chẳng qua số Thiên cơ đặng.
Chú thích
Ðường Thánh: Con đường đạo đức.
Dưỡng tánh: Nuôi dưỡng cái tánh cho được lành như thuở ban đầu. Nhơn chi sơ tánh bổn thiện: Con người mới sanh ra, tánh vốn lành.
Thoát đọa Tam đồ: Thoát khỏi ba đường luân hồi đày đọa là Ðịa ngục, Ngạ quỉ (Ma đói), Súc sanh (Thú vật). Tam đồ, ở đây chúng ta phải hiểu ý nghĩa theo Phật giáo, là ba đường luân hồi đày đọa trong Lục đạo luân hồi. Lục đạo luân hồi gồm: Tiên, Thần, Nhơn, Ðịa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.
Cảnh ủ bông tàn: Lúc đóa hoa kéo úa sắp tàn, ý nói cảnh về già của con người.
Người hữu phước: Người có phước đức trong kiếp trước, tức người có căn tu hành.
Hầu cận: Hầu gần, sắp đến.
Hội Tam giáo xin bế lại: Các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật trong Tam giáo họp Ðại hội xin đóng lại, và bãi bỏ luật tu hành, người tu không còn đắc đạo được nữa.
Số Thiên cơ: Ðiều qui định trong Thiên điều.
Bài 68: Thánh giáo dạy vì sao phải lập Tân Luật
Ngày 24-12-1926 [NOEL] (âl 20-11-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Thầy mừng các con.
Các con ôi! Nếu nói rằng Thầy đã nhiều cực nhọc từ ngày Khai Ðạo đến chừ, Ðạo đặng phổ thông mau chóng dường nầy, thì đáng lẽ Thầy mừng cho các con lắm mới phải…. Sao Thầy lại buồn?
Các con ôi! Các con đã chịu lắm khổ não nơi biển trần nầy…. Từ mười ngàn năm rồi đã ở dưới quyền Tà quái áp chế.
Vì vậy mà Thầy phải phế hết Bạch Ngọc Kinh, Huỳnh Kim Khuyết, giáng trần độ rỗi các con, chớ chi Thầy đến mà làm cho giảm sự khổ não các con chẳng đặng nữa thì thôi, lẽ nào còn lập TÂN LUẬT ràng buộc các con thêm nữa….
Vì cớ mà Thầy buồn….
Thầy tỏ thật, cái luật lệ Thầy khiến các con hiệp chung trí mà lập thành đây, nó có ảnh hưởng về đạo đức, Tiên phong Phật sắc của các con, nên Thầy buộc mình cam chịu vậy.
Chẳng luật lệ thì trái phép, mà trái phép thì thế nào vào Bạch Ngọc Kinh cho đặng….
Vậy các con rán làm phận sự cho hoàn toàn, rồi có Thái Bạch giáng cơ sửa luật.
Chú thích
Biển trần: Ðây là Biển trần khổ. Ðức Phật nói: Nước mắt của chúng sanh nhiều hơn nước bốn biển. Cho nên cõi trần là biển khổ, là cõi đọa. Con người sống trong cõi trần là đang ngụp lặn trong biển khổ ấy.
Áp chế: Dùng sức mạnh mà sai khiến kẻ khác.
Bạch Ngọc Kinh: Tòa nhà bằng ngọc trắng ở tại trung tâm CKVT, nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế, nơi ấy có đủ ngôi vị của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Huỳnh Kim Khuyết: Cái cổng vào đền vua làm bằng vàng ròng. Trong Huỳnh Kim Khuyết là nơi họp triều đình của Ðức Chí Tôn.
Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế:
Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,
Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.
Nghĩa là:
Mù mù cửa Huỳnh Kim Khuyết,
Vòi vọi đền Bạch Ngọc Kinh.
Tân Luật: Luật tu mới, trái với Cựu Luật là Luật tu cũ.
Tân Luật là luật tu của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
Cựu Luật là luật tu của thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.
Tiên phong Phật sắc: Hình dáng như Tiên, vẻ đẹp như Phật. Ý nói phẩm cách cao thượng siêu phàm.
Bài 69: Thánh giáo dạy sửa mình và thương yêu nhau
Ðêm 24-12-1926 [NOEL] (âl 20-11-Bính Dần)
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương
Thầy lấy làm vui mà trông thấy các con hội hiệp nhau đêm nay mà tỏ lòng thành kính.
Thầy để lời ban khen hạnh đức của phần nhiều trong chư môn đệ và chư ái nữ.
Sự hội hiệp của các con chẳng phải vì nơi đạo đức mà thôi, lại cũng vì mối tương thân tương ái nữa.
Ngày nầy năm trước, các con vẫn còn mơ màng trong giấc mộng trần, đường co duỗi vẫn đã lấp kín chút bợn trần, mà màn thế tục cũng chưa trông khỏa vén. Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!
Thầy cũng hoan tâm nắm máy huyền vi, mong rằng các con sẽ tận lực tận tâm đắp vững nền Ðạo đặng hoàn toàn mà dìu sanh chúng thoát khỏi tội tình, cùng nhau đỡ nâng đem lên con đường Cực Lạc, vẹt ngút mây xanh, trông vào lối thanh bạch thiêng liêng là chỗ từ xưa các Chí Thánh đã tổn lắm công phu mà chưa mong để mình đến được.
Thầy cũng để lời rằng: Phần nhiều trong các con chưa để hết tâm tánh giúp ích vào đường Chánh giáo. Thầy vì thương căn quả của các con mà lấy đức từ bi đặng Thiên phong cho các con là cố ý để cho các con hành đạo cho hoàn toàn, dễ bề tương công chiết tội tiền khiên, hầu nâng mình vào nơi cựu vị, song nhiều đứa vẫn còn thế tục đeo đai, bước trần chưa trở nẻo, còn chất chứa gánh trần ai, ngổn ngang lằn gió bụi, chẳng hiểu sự khổ hạnh trau mình là nấc thang để bước khỏi chốn luân hồi ràng buộc.
Nếu Thầy chẳng vì thương tâm thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.
Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?
Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh.
Thầy mong rằng, mỗi đứa đều lưu ý đến sự sửa mình ấy thì lấy làm may mắn cho nền Ðạo, rồi các con sẽ đặng thong dong mà treo gương cho kẻ khác.
Các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó.
Chú thích
Giấc mộng trần: Cuộc vinh hoa phú quí nơi cõi trần ngắn ngủi như là một giấc mộng. Giấc mộng trần đồng nghĩa: Giấc huỳnh lương, Giấc Nam kha.
Co duỗi: Thu gom các hoạt động để chờ thời, gọi là co; hay bung ra hoạt động mạnh mẽ, gọi là duỗi. Ðường co duỗi là ý nói các sự quyền biến hoạt động trong cuộc sống.
Khỏa vén: Khoát tấm màn ra cho trống chỗ.
Cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở: Hoa cúc tượng trưng mùa thu, cúc xủ là hoa cúc tàn, ý nói cuối mùa thu. Ðầu mùa Ðông có tiết sương giáng, sương tan là cuối mùa Ðông. Hoa mai tượng trưng mùa xuân, mai gầy là ý nói hết mùa xuân. Hoa sen là tượng trưng mùa Hạ, sen nở là đang lúc mùa Hạ.
Thế thái nhơn tình: Tình cảm của con người đổi thay theo tình đời ấm lạnh.
Ðai cân nhuộm nước màu thiền: Việc công danh lấn áp việc tu hành. Lo công danh mà bỏ qua việc tu hành.
Danh lợi xủ lằn trí huệ: Cái danh và cái lợi che khuất cái trí sáng suốt của người tu. Xủ là rủ xuống.
Căn quả: Căn là gốc rễ, chỉ kiếp trước; quả là kết quả. Căn quả là cái kết quả có được trong kiếp nầy là do những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước. Ở đây, căn quả là ý nói cái căn lành của mỗi người.
Tương công chiết tội tiền khiên: Lấy công quả trừ bớt tội lỗi đã làm trong kiếp trước.
Bước trần chưa trở nẻo: Vẫn bước trên con đường danh lợi, chưa trở lại con đường tu.
Bài 70: Phải làm theo ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật, Thần Thánh chép biên
Ðại Ðàn Chợ Lớn (Nhà của Ngài Lê văn Trung). Ngày 27-12-1926 (âl 23-11-Bính Dần)
THẦY
Các con,
Chư môn đệ nghe:
Phần nhiều trong các con chẳng để lòng thờ kính Thầy, tưởng cho đem thờ Thầy vào nhà là chủ ý cầu một việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẳng hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm tục của các con.
Nhiều đứa lại còn mờ hồ, đã thờ Thầy mà chưa chắc ý rằng thờ đặng chi, và mở đạo có ích gì?
Than ôi! Ðã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm, học hỏi cho rõ ngọn nguồn, thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu?
Ðạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần. Sanh đứng vào vòng thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng đặng chờ lúc kết quả, hồn qui Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm, trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần ai khốn đốn nầy.
Phận chưa xong phận, thân chẳng nên thân, thân phận lo tính chưa rồi, còn mong mỏi chi dụng mình vào đường đạo đức để cho có ích chung nữa đặng!
Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật.
Phải quấy, Thần, Thánh chỉn chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc. Khá biết lấy!
Chú thích
Ðạo Trời khai ba lượt: Từ trước tới nay, Ðức Chí Tôn mở ra 3 thời kỳ khai Ðạo phổ độ nhơn sanh:
- Kỳ thứ nhứt gọi là Nhứt Kỳ Phổ Ðộ vào thời Thái cổ.
- Kỳ thứ nhì gọi là Nhị Kỳ Phổ Ðộ vào thời Trung cổ.
- Kỳ thứ ba là Tam Kỳ Phổ Ðộ ngày nay.
Hồn qui Thiên ngoại: Khi con người nơi cõi trần chết, linh hồn xuất ra khỏi thể xác, bay lên không trung, ra ngoài bầu Trời, đến các thế giới khác.
Lương tâm: Cái tâm lành. Cái tâm lành nầy là cái thể hiện của linh hồn, mà linh hồn là điểm Linh quang của Trời ban cho mỗi người, nên nó vốn lành. Nó thường khiến con người làm điều hay sự phải, khi làm điều sai trái gian ác thì bị lương tâm cắn rứt. Mỗi người đều có tâm lành như nhau, Phật giáo gọi là Phật tánh, nhưng con người làm ác là do dục vọng che phủ lương tâm, không cho lương tâm kềm chế thể xác.
Chỉn: Vốn, vẫn. Từ ngữ xưa.