Sao chép đường dẫn

Bài 11: Thánh giáo phong Thánh lần đầu

Ðêm 25 rạng 26-4-1926 (âl 14/15-3-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

Kim triêu dĩ đáo Thiên Trung Quang,

Ám hiểu thế tình tánh đức nan.

Chỉ đãi thời lai quang minh tụ,

Tả ban thiểu đức, hữu ban mang.

Ðức, Hậu, phong vi Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ.

Cư, phong vi Tá Cơ Tiên Hạc Ðạo Sĩ.

Tắc, phong vi Hộ Giá Tiên Ðồng Tá Cơ Ðạo Sĩ.

Trung, Lịch, đã thọ sắc, cứ tước vị mà theo sắc mạng Ta.

Kỳ, phong vi Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Ðạo Giáo Sư.

Bản, phong vi Tiên Ðạo Công Thần Thuyết Ðạo Sư.

Cư, tuân theo lời Thầy truyền mà thi hành.

[…]

Chú thích

Bài Thánh Ngôn nầy có trong ÐS.I.114.

Bài thi tứ tuyệt viết ra chữ Hán sau đây:

Kim triêu dĩ đáo Thiên Trung Quang,
今朝已到天中光

Ám hiểu thế tình tánh đức nan.
暗曉世情性德難

Chỉ đãi thời lai quang minh tụ,
只待時來光明聚

Tả ban thiểu đức, hữu ban mang.
左班少德右班芒

GIẢI NGHĨA:

Sáng nay Ta đến từ cõi Thiên Trung Quang,

Ngầm hiểu tình đời và tánh đức thì rất khó.

Chỉ đợi cái thời tới thì nhiều người sáng suốt tài giỏi tụ về.

Ban tả thì thiếu đức, ban hữu thì mờ tối.

Nếu ban tả và ban hữu nầy ở hai bên tả và hữu của Ðức Chí Tôn thì đó là hai phái: phái Thái và phái Ngọc, (phái Thượng thì ở chính giữa). Hai phái nầy, một phái thì thiếu đức, một phái thì còn ám muội mờ hồ.

Phong vi: Phong chức làm.

Thọ sắc: Nhận lãnh mệnh lệnh của Ðức Chí Tôn.

Tước vị: Phẩm tước và ngôi vị.

Sắc mạng: Mệnh lệnh của Ðức Chí Tôn.

Ta: Tiếng tự xưng của Ðức Chí Tôn.

Sao chép đường dẫn

Bài 12: Dù cho trẻ con trong bụng cũng phải độ, sao các con lại đuổi thiện nam tín nữ?

Trường Sanh Tự (Cần Giuộc). Chúa nhựt, 30-5-1926 (âl 19-4-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

Thầy chẳng hiểu thế nào chư môn đệ ám muội dường ấy? 

“Chiêu kỳ trung độ dẫn hoài sanh” nghĩa là gì? Dầu cho trẻ con trong bụng cũng phải độ, sao các con lại đuổi thiện nam tín nữ?

Hứa nhập – Khai môn.

Chư chúng sanh nghe:

Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói “Phật giả vô ngôn“! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.

Dường nầy, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đọa A Tỳ thì hết lời nói rằng: “Phật tông vô giáo” mà chối tội nữa.

Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.

Tại đây là một nơi Ta khởi chế sự “Tế lễ thờ phượng” lại.

Bổn hội nghe:

Giữa chùa, gần 2 tran thờ Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Ðế Quân, phải lập ra một điện để Thánh Tượng Ta ở giữa. Bên mặt Ta để tượng Quan Âm, bên trái thì tượng Quan Ðế, còn chư Tiên, chư Thánh, chư Phật, để hàng dưới.

Xưng hiệu chùa là “Ngọc Hoàng Tự“.

Chú thích

Hứa nhập: Cho vào. Hứa là thuận cho, nhập là vào.

Hứa nhập Khai môn: Mở cửa ra, cho vào.

Chánh truyền: Giáo lý được truyền lại một cách đúng đắn và chơn thật.

Phật giả vô ngôn: Phật không có nói.

Phật tông vô giáo: Ðạo Phật không có dạy.

Siêu rỗi: Cứu vớt linh hồn cho siêu thăng.

Khởi chế: Bắt đầu tạo ra.

Bổn hội: Những người ở trong hội của chùa nầy.

Lưu ý: Phần chót của bài Thánh Ngôn nầy, từ chữ ” Tại đây là một nơi . . . . cho đến chùa là Ngọc Hoàng Tự ” không có in trong các bản TNHT năm 1931, 1950, 1957.

Sao chép đường dẫn

Bài 13: Thánh Tâm và Phàm Tâm, khuyên độ rỗi nhơn sanh

Thứ hai, 31-5-1926 (âl 20-4-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

Trung! Con phải lên nhà G… bây giờ mà xem sóc, sắp đặt sự thờ phượng theo bây giờ cho tới ngày tác thành Tân Luật.

G…! Thầy khen con đó.

Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi.

Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đọa trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Con chỉ có tu mà đắc đạo. Phải ngó đến hằng ức thiên vạn kẻ nhơn sanh chưa đặng khỏi luân hồi, để lòng từ bi độ rỗi, kẻo tội nghiệp.

Chú thích

Trung: Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.

G…: (?)

Khổn trần: Bị khốn đốn nơi cõi trần.

Chí Thánh: Bực Thánh cao hơn hết, đó là bực Thiên Thánh.

Hạ thế: Giáng sanh xuống trần.

Ức = 100.000.

Thiên = 1.000.

Vạn = 10.000

Sao chép đường dẫn

Bài 14: Khuyên chư tăng hành đạo và không được nói Phật giả vô ngôn nữa

Hội Phước Tự (Cần Giuộc). Thứ bảy, 5-6-1926 (âl 25-4-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

Cư, đọc Thánh Ngôn.

Tắc, tụng Nhơn Quả.

Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?

Hữu Ngã đồ Thái Ðầu Sư tại thử, nhĩ vô thức luyện đạo, Ngã phái Ngọc Ðầu Sư chỉ giáo thọ bửu pháp.

Tam thập tứ vị chúng sơn bất tri chơn lý luyện thành.

Ngã vi Chủ khảo giáo hóa. Khả tuân Ngã mạng.

Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!

THÍCH CA NHƯ LAI kim viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT

Chư sơn nghe dạy:

Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.

Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.

Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.

Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật.

Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Ta đã đến với huyền diệu nầy thì từ đây, Ta cũng cho chư tăng dùng huyền diệu nầy mà học hỏi, ngày sau đừng đổ tội rằng vì thất học mà chịu thất kỳ truyền. Chư tăng từ đây chẳng đặng nói Phật giả vô ngôn nữa.

Chú thích

Hội Phước Tự: Một ngôi chùa ở Cần Giuộc mà vị sư trụ trì là Yết Ma Luật (Nguyễn văn Luật). Tháng 4 năm Bính Dần (1926), Hội Phước Tự tổ chức trường hương, Hòa Thượng Thích Thiện Minh làm Thiền chủ. Chư vị lập đàn cầu cơ, tiếp được bài Thánh Ngôn nầy. Hòa Thượng Thiện Minh được Ðức Chí Tôn phong làm Ðầu Sư phái Thái, Thánh danh Thái Minh Tinh. Sau, Yết Ma Luật được Ðức Chí Tôn phong Giáo Sư phái Thái là Thái Luật Thanh. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Cư: Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

Tắc: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

Tắc tụng Nhơn Quả: Ðức Chí Tôn bảo Ngài Phạm Công Tắc tụng Kinh Nhơn Quả. Kinh Nhơn Quả là Kinh Sám Hối, thỉnh bên Minh Lý (Tam Tông Miếu).

Chúng sơn: Các tu sĩ Phật giáo, đồng nghĩa chư tăng.

Chủ khảo: Người chủ trì việc thi tuyển học viên.

Diễn nôm đoạn Thánh Ngôn chữ Hán:

Thích Ca Như Lai là Ta, muốn cứu chúng sanh, mượn tên là Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Ngươi biết chăng?

Có môn đệ của Ta là Thái Ðầu Sư (Thái Minh Tinh) tại đây, nó không biết luyện đạo, Ta phái Ngọc Ðầu Sư (Ngọc Lịch Nguyệt) chỉ vẽ cho để nhận lãnh bửu pháp.

Ba mươi bốn vị tăng không biết chơn lý luyện thành.

Ta làm Chủ khảo giáo hóa. Khá tuân lệnh Ta.

Các ngươi nên thọ pháp, nên thọ pháp. Kính vậy thay!

Ðạo bị bế lại: Chánh pháp tu đắc đạo bị đóng lại, làm người tu không thể thành Chánh quả được; giống như trường thi đóng cửa, không tổ chức thi tuyển thì đâu có ai thi đậu.

Huệ Năng – Thần Tú: Hai vị nầy đều là học trò của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn của Phật giáo Trung Hoa. Thần Tú học với Hoằng Nhẫn nhiều năm nhưng chưa tỏ ngộ được Chơn tánh. Huệ năng mới học với Ngũ Tổ có 8 tháng nhưng lại ngộ đạo, thấy được Chơn tánh, đạt được trí huệ. Do đó, Ngũ Tổ truyền Y Bát cho Huệ Năng làm Lục Tổ Phật giáo, dạy xuống miền Nam hoằng pháp, truyền bá phép tu Ðốn ngộ.

Sư Thần Tú có phần buồn nên đi lên phía Bắc hành đạo, truyền bá phép tu Tiệm ngộ. Lúc bấy giờ, Phật giáo Trung hoa chia ra: Nam Tông của Lục Tổ Huệ Năng và Bắc Tông của Ðại sư Thần Tú. Nhưng Nam Tông mới là chánh truyền vì Lục Tổ Huệ Năng có Y Bát.

Mật chiếu: Mệnh lệnh bí mật của Ðức Chí Tôn.

Phật Tông Nguyên Lý: là quyển Kinh Phật viết vào thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, trong đó có nêu 6 chữ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, và viết rằng: Sau Ðức Thích Ca, sẽ có một Ðức Phật rất lớn giáng trần mở đạo.” Ðó là Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài ngày nay đó vậy. (theo Huệ Lương)

Hiếm: Có 2 nghĩa tùy theo trường hợp: Ít có – Nhiều. Trong bài Thánh Ngôn nầy, Hiếm là nhiều (từ ngữ xưa) (theo Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của).

Giả luật: Ý nói luật tu không đưa đến sự đắc đạo. Trái với Giả luật là Chơn luật. Giả là không thật. Chơn là thật.

Tả Ðạo: Ðạo không đúng đắn. Tả là sai trái.

Bàng Môn: Cửa bên hông chớ không phải cửa chánh. Ý nói không phải Ðạo Chánh.

Tả đạo Bàng môn: Chỉ các tôn giáo không chơn chánh, đưa người tu đến chỗ lầm lạc, không thành Chánh quả, không giải thoát khỏi luân hồi.

Kỳ truyền đã thất: Cái Chơn truyền ấy đã mất. Chơn truyền là giáo lý chơn thật đúng đắn được Ðấng Giáo chủ truyền lại cho các môn đồ.

Sao chép đường dẫn

Bài 15: Thánh giáo bằng Pháp văn vì có hai người Pháp hầu đàn

Thứ ba, 8-6-1926 (âl 28-4-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

CAO ÐÀI

(Hai người Lang sa hầu đàn)

Ce n’est pas ainsi qu’on se présente devant Dieu. THĂNG.

Tái cầu:

CAO ÐÀI, LE TRÈS-HAUT

Oh! Race bénite, Je vais satisfaire ta curiosité. Humains, savez-vous d’où vous veniez?

Parmi toutes les créatures existant sur ce globe terrestre, vous êtes les plus bénis; Je vous élève jusqu’à Moi en esprit et en sagesse. Vous avez toutes preuves pour vous reconnaitre par promotion céleste.

Le Christ est venu parmi vous. Il versait son Saint sang pour la Rédemption.

Quel profit avez-vous pendant presque deux mille ans de son absence? Vous préchez son Évangile sans même le comprendre. Vous dénaturez la signification de sa Sainte Doctrine. L’humanité souffre des vicissitudes de tous ses Apôtres. Ils n’ont pas su suivre le même chemin du calvaire de leur Maitre.

Le trône le plus précieux du monde est celui du premier de ses disciples.

Cette doctrine, au lieu d’apporter à l’humanité la paix et la concorde, lui apporte la dissension et la guerre.

Voilà, pourquoi Je viens vous apporter moi-même la paix tant promise.

Le Christ ne revient qu’ensuite.

Au revoir…. Vous apprendriez encore beaucoup de choses auprès de mes disciples.

Bài dịch Việt văn của Hội Thánh:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết

CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

giáo đạo Nam phương

CAO ÐÀI

(Hai người Lang sa hầu đàn)

Không phải cách chầu Trời như thế. THĂNG.

Tái cầu:

CAO ÐÀI, ÐẤNG CAO CẢ

Hỡi nầy dân tộc có diễm phước, Thầy sẽ làm thỏa mãn tánh hiếu kỳ của con. Là loài người, các con có biết tự đâu các con đến chăng?

Trong vạn vật hiện hữu trên quả địa cầu nầy, các con là kẻ được ban ân huệ nhiều hơn cả; Thầy đem các con đến tận Thầy bằng cả tinh thần lẫn trí huệ. Các con có đủ bằng chứng để tự biết mình do sự thăng phẩm vị thiêng liêng.

Chúa Cứu Thế đã đến với các con. Người đã phải chịu đổ máu Thánh để chuộc tội cho loài người.

Trong 2000 năm vắng mặt Người, các con đã làm gì hữu ích? Các con truyền bá đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả. Các con lại làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo. Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông đồ.

Chiếc ngai quí báu nhứt trên thế gian nầy hiện là chiếc ngai của vị đệ nhứt cao đồ của Người.

Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại hòa bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh.

Bởi thế nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền hòa bình đã từng hứa hẹn.

Rồi đây, Chúa Cứu Thế sẽ trở xuống sau.

Thầy giã từ các con…. Các con sẽ còn học hỏi nhiều việc khác nữa với mấy vị môn đồ của Thầy.

Chú thích

Chúa Cứu Thế: Ðức Jésus Christ, Gia Tô Giáo chủ.

12 Thánh Tông đồ của Ðức Chúa Jésus là:

  1. Thánh Pierre (Phêrô).
  2. Anrê (em của Phêrô).
  3. Yacôbê (con của Zêbêđê).
  4. Yoan (em của Yacôbê).
  5. Philip.
  6. Barthôlômêô.
  7. Thôma.
  8. Mathêô. 
  9. Yacôbê (con của Alphê).
  10. Thađê.
  11. Simôn nhiệt thành.
  12. Yuđa Iscariôt.

Yuđa phản Chúa nên bị chết thảm. 11 Tông đồ còn lại cử Ông Matthya vào thay Yuđa cho đủ số 12 như buổi đầu.

Sao chép đường dẫn

Bài 16: Thánh giáo dạy Nhạc Lễ

Ngày 27-6-1926 (âl 18-5-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương

Nhơn, con phải khởi sự kể từ ngày nay cho tới bữa Ngọc Ðàn Vĩnh Nguyên Tự, tập nhạc đủ lại hết. Như nhập lễ thì đừng đánh trống Bát Nhã, mà đánh Ngọc Hoàng Sấm, nghĩa là mỗi hồi 12 tiếng, đổ xuống đủ 12 hồi, 3 lần như vậy.

Bạch Ngọc Chung cũng dộng ấy.

Khi nhập lễ, xướng “Khởi Nhạc” thì phải đánh trống và đờn bảy bài cho đủ.

Chừng hiến lễ, phải đờn Nam Xuân ba bài, vì lễ sanh phải hiến lễ bảy lái, đi chữ Tâm. Tới khi thài, thì đờn Ðảo Ngũ Cung, rồi con lại bắt đầu đờn lại, cho môn đệ tụng kinh.

Lịch, Tân Luật con lập có Thầy giáng đủ lễ hết. Vậy con truyền cho chư môn đệ đặng chúng nó y theo mà hành lễ.

Nghĩa, con phải học xướng cho thuộc làu.

Biểu Ðức cũng vậy. Ba con phải nhớ lời Thầy dặn cho kỹ nghe!

Mấy đứa con là: Nghĩa, Hậu, Ðức, Tràng, Cư, Tắc, Sang, đều mặc đồ trắng, hầu theo thứ lớp như vầy:

Nghĩa, Ðức, đứng xướng ngoài, là tại bàn thờ Hộ Pháp; rồi Hậu, Tràng, đứng cặp kế đó; kế ba con sau rốt hết: Tắc giữa, Cư mặt, Sang trái.

Còn ba bàn thờ trong thì biểu Lịch lập như vầy:

  • Giữa: Thượng Ðàn,
  • Hữu: Ngọc Ðàn,
  • Tả: Thái Ðàn.

Còn Thánh vị của chư môn đệ đã dĩ vãng thì tùy theo phái nó mà sắp kế theo bàn thờ Thầy.

Kỳ, Kim, hầu xướng nội, là bàn thờ trong, biểu chúng nó đứng như vầy: Kỳ bên mặt, Kim bên trái.

Còn Bản, Giỏi, một cặp lễ sanh đầu, đi giữa với một cặp nữa là Tỷ với Tiếp.

Tả thì Nhơn với Tương, hữu thì Giảng với Kinh.

Lập ngoài cho đủ ba bàn vọng, đều để chư lễ sanh hầu.

Chừng nào nội xướng thì để cho lễ sanh điện lễ, cúng vật thì để sẵn ngoài ba bàn, chừng lễ sanh xướng thì đem vô cho mấy vị Chức sắc hiến lễ.

Trung, con phải cậy hai vị Lão thành Minh Ðường hầu trong đặng tiếp lễ Thượng Ðàn, Ngọc Ðàn thì Kinh và Chương, còn Thái Ðàn ngày ấy Thầy lựa.

Cười …

Minh, Thầy sẽ dạy nó đến.

Cười …

Ba bàn ngoài thì mỗi bàn phải có hai viên Chức sắc hiến lễ.

Tương và Tươi tại giữa Thượng Ðàn.

Muồi và Vân bên Ngọc Ðàn.

Còn Thái Ðàn ngày ấy Thầy định.

Cười . . .

Bản, đứng dậy. Thầy vẽ đi chữ Tâm là sao, rồi Thầy mới dạy tiếp đặng.

[Phết trước mấy dấu ngón chơn mặt, giơ lên, phết qua một cái đặng làm cái chấm…. Ðứng hai chơn cho ngang nhau. Con phết đi, đứng thụt lại.]

Cư, con đi cho nó coi.

Các con coi Thầy đi đây nè!

Hiểu lấy nước con.

Con đi thế nào thành hai chữ Tâm lộn ngược như vậy.

Cư đi trúng, đi lại nữa con.

Cư, giỏi con, phải vậy, như con muốn cho ra bộ lịch sự thì khi chấm gót, con nhún bộ xuống một chút.

Cười….

Giỏi, Bản,… Thầy tiếp.

Ðọc lại Nghĩa.

Như ngoại xướng: “Ðiện Trà“, “Quì“, Chức sắc đồng quì dưng Trà lên khỏi đầu.

Một cặp lễ sanh đầu, ở giữa hầu, đặng cầm song đăng bước lên. Khi xướng “Quì” thì cũng phết chơn trái, đá chơn mặt, quì xuống cho đều với ba cặp lễ sanh kia, chừng trống nhạc đổ thì lần lần đứng dậy cho đều, day mặt vào Bửu điện.

… Phải vậy con…. Hễ đứng dậy rồi, xây mặt vào Chánh điện, để song đăng và cúng vật xuống ngay ngực, chừng trống đổ lần thứ nhì, cung lên. Nhạc lại khởi thì xem nhịp mà đi bảy lái, chừng ấy Thầy dặn Nhơn nó nhịp lại cho các con đi. Cười …

Con Trung, con phải giữ y như Tân Luật mà hành lễ.

Chú thích

Bài Thánh Ngôn nầy, Ðức Chí Tôn dạy cách sắp đặt nghi thức cúng Ðại Ðàn, đặc biệt, Ðức Chí Tôn nhập vào Ngài Cao Quỳnh Cư để dạy cách hiến lễ đi theo hình chữ Tâm. (心) Ðây là cách hiến lễ đặc biệt của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Nhơn: Giáo Sư Thượng Nhơn Thanh (Nguyễn Văn Nhơn).

Ngọc Hoàng Sấm: Ý nói trống Lôi Âm (Lôi Âm Cổ).

Bạch Ngọc Chung: Chuông Bạch Ngọc.

Ðờn bảy bài: Ðại Ðàn cúng Vía Ðức Chí Tôn và ba rằm lớn: Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn, khi Nhạc Tấu Quân Thiên, nhạc đờn bảy bài, kể ra sau đây:

  • Xàng xê: là đưa qua trộn lại không ở một chỗ, ấy là thời Hỗn Ðộn sơ khai.
  • Ngũ Ðối Thượng: là từng trên, có Ngũ Khí thanh nổi lên làm Trời.
  • Ngũ Ðối Hạ: là từng dưới, có khí Ngũ Hành nặng trược hạ xuống làm Ðất.
  • Long Ðăng: là rồng lên, ấy là Dương.
  • Long Ngâm: là rồng xuống, ấy là Âm.
  • Vạn Giá: là muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài đều có tên.
  • Tiểu Khúc: là sự nhỏ ngắn, ấy là các vật nhỏ ngắn đều có định luật.

Ðờn hiến lễ bảy bài vì Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu phối hợp Dương quang và Âm quang sanh hóa CKVT vạn vật.

Lịch: Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt (Lê Văn Lịch).

Nghĩa: Khai Pháp Trần Duy Nghĩa.

Ðức: Hiến Pháp Trương Hữu Ðức.

Hậu: Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.

Tràng: Tiếp Pháp Trương Văn Tràng.

Cư: Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

Tắc: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

Sang: Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

Hiểu: (? )

Kỳ: Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh (Vương Quan Kỳ).

Kim: Giáo Sư Thượng Kim Thanh (Ngô Văn Kim).

Hầu xướng nội: Ðứng hầu Nội Nghi, phận sự xướng lễ.

Bản: Giáo Hữu Thượng Bản Thanh (Ðoàn Văn Bản).

Giỏi: Giáo Hữu Thượng Giỏi Thanh (Huỳnh Văn Giỏi).

Tỷ: Giáo Hữu phái Thượng (Cần Giuộc).

Tiếp: Giáo Hữu phái Thượng (Cần Giuộc).

Lễ sanh: Người giữ phận sự điện lễ. Ðiện lễ là hai tay cung lên, bưng phẩm vật đem từ Ngoại nghi vào Nội nghi, bước đi theo hình chữ Tâm 心 trao cho Chức sắc quì tại Nội nghi hiến lễ lên Ðức Chí Tôn.

Danh từ “Lễ sanh ở đây chỉ người hiến lễ” trùng với “Lễ Sanh là phẩm vị Chức sắc”, nên Ðức Lý Giáo Tông sau nầy đặt ra danh từ Lễ sĩ cho phân biệt:

  • Lễ sĩ là người hiến lễ, học trò lễ.
  • Lễ Sanh là phẩm vị Chức sắc dưới Giáo Hữu.

Tương: Phối Sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương)

Giảng: Giáo Hữu Thượng Giảng Thanh (Lê Văn Giảng).

Kinh: Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh (Nguyễn Văn Kinh).

Trung: Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung).

Minh Ðường: Phái tu nơi chùa Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc của Thái Lão Sư Lê Ðạo Long.

Chương: Bảo Ðạo Ca Minh Chương.

Minh: Hòa Thượng Thiện Minh, học trò của Hòa Thượng Như Nhãn. Ðức Chí Tôn phong Ngài Thiện Minh là Ðầu Sư Thái Minh Tinh, phái Thái.

Tươi: Hiến Ðạo Phạm Văn Tươi.

Muồi: Giáo Sư Ngọc Muồi Thanh (Nguyễn Văn Muồi)

Vân: Giáo Sư Ngọc Vân Thanh (Ngô Tường Vân).

Hai câu: “Cư, con đi cho nó coi. Các con coi Thầy đi đây nè.” Ðức Chí Tôn nhập xác vào Ngài Cao Quỳnh Cư để dạy cách đi hiến lễ bước theo hình chữ Tâm.

Ngoại xướng: Cặp lễ sĩ ở Ngoại nghi xướng lễ.

Ðiện Trà: Lễ sĩ đi hình chữ Tâm, cung tay cầm cái đài có đặt tách Trà, đem dâng từ Ngoại nghi vào Nội nghi.

Song đăng: Cặp lễ sĩ đi trước cầm hai cây đèn, gọi là Cặp đăng hay Song đăng. (Cặp lễ sĩ đi sau bưng cúng phẩm gọi là Cặp đài).

Sao chép đường dẫn

Bài 17: Thánh giáo khuyên dạy một chức sắc tên K

Ngày 5-7-1926 (âl 26-5-Bính Dần)

CAO ÐÀI

K… nghe Thầy dạy con.

Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả.

Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng, tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn.

Thầy nói cho con nghe, K… ôi! Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

K… con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy.

Thầy đã hiểu lòng con ăn năn sám hối, nên Thầy đã tha tội trước cho con rồi.

Phận sự con rất lớn, tại Ngọc Ðàn con sẽ thọ lịnh.

Chú thích

K…: Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh (Nguyễn Văn Kinh). Ông Kinh, sanh năm 1890 ở Bình Lý Thôn, Gia Ðịnh, tu theo Minh Sư, học trò của Thái Lão Sư Trần Ðạo Quang. Ông Kinh có cất một cái am nhỏ ở làng Hữu Ðạo thuộc Cai Lậy để tu học với Ngài Nguyễn Văn Tương (sau thọ phong Thượng Chưởng Pháp. Khi Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương qui Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được phong Quyền Thượng Chưởng Pháp. Về sau nữa, khi Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên thì Ngài Trần Ðạo Quang được ân phong chánh vị là Ngọc Chưởng Pháp).

Ông Kinh thọ Thiên ân Giáo Sư phái Ngọc vào ngày mùng 8-6-Bính Dần, có viết hai quyển sách về Giáo Lý Ðạo Cao Ðài là: Giảng Ðạo Yếu Ngôn và Hội Lý Xiển Chơn Luận. Giáo Sư Kinh có học thức uyên thâm, nên được Ðức Chí Tôn bổ đi thuyết đạo phổ độ nhơn sanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1945, do máy bay Ðồng Minh oanh tạc đánh Nhựt Bổn, Ông bị thương nặng lúc đi trên sông Vàm Cỏ, được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn thì qui liễu, hưởng 56 tuổi. (Tài liệu của Huệ Nhẫn)

Bạch Ngọc Kinh: Tòa nhà bằng ngọc trắng tại Trung Tâm của Càn khôn Vũ trụ, là nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. Trong Bạch Ngọc Kinh có đủ ngôi vị của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đủ cả Nam và Nữ.

A Tỳ: chỉ cõi Ðịa ngục, là nơi giam giữ và trừng trị các tội hồn, tức là những linh hồn mà trong kiếp sống nơi cõi trần đã làm nhiều điều ác độc, tội lỗi.

Sao chép đường dẫn

Bài 18: Thánh giáo dạy sắp đặt Ngọc Ðàn

Ngày 15-7-1926 (âl 6-6-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết CAO ÐÀI
giáo đạo Nam phương

Cư, Tắc, con phải đem bốn đứa nhỏ theo, rồi kiếm thêm tám đứa nữa, chia ra mỗi hướng là ba đứa, con để:

An . . . . . . . . . . . . Ðông
Bích . . . . . . . . . . . Tây
Tri . . . . . . . . . . . . Nam
Hoằng . . . . . . . . . Bắc.

Biểu chúng nó cầm mỗi đứa một cây cờ nhỏ. Phải làm cờ thế nầy: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen, mỗi hướng ba cây. Trung ương là ba đứa bây cầm. Như làm cờ vải chẳng kịp thì mua giấy màu. Bề dài cờ là 9 tấc tây, bề ngang 3 tấc tây, cắt xéo xuống. Nghe và tuân theo.

Khi sắp đặt rồi, Cư, con chấp bút bằng nhang cho Thầy trấn. Con biểu Vân, khi trấn rồi, nó ở trong cho tới mãn lễ, nếu bước ra ngoài, về nhà điên đi mà chớ.

Biểu sắp nhỏ đại tịnh. Tắc nghe, con ngó chừng chúng nó luôn luôn.

Biểu Lịch phát cờ cho sắp nhỏ vì nó phải đọc chú.

Sao chép đường dẫn

Bài 19: Thánh giáo dạy thành lập Nữ Phái

Thứ bảy, 17-7-1926 (âl 8-6-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương

Ðường thị! Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trã cháo hoài.

Phần các con truyền đạo kỳ Phổ Ðộ nầy cũng lắm nặng nề, bao nhiêu Nam tức bao nhiêu Nữ. Nam biết thành Tiên, Phật, chớ Nữ lại không sao?

Thầy đã nói Bạch Ngọc Kinh có cả Nam và Nữ, mà phần nhiều Nữ lấn quyền thế hơn Nam nhiều.

Vậy, con phải tuân lịnh Thầy mà lập thành Nữ phái. Nghe và tuân, Thầy hằng ở bên con, lo chung cùng con. Con chớ ngại.

H… Thầy giao Nữ phái cho con rộng quyền dạy dỗ, làm chủ, chờ Thầy thâu đến mà giao cho con. Trách nhậm con, Thầy chia bớt với.

Chú thích

Ðường thị: Ðức Chí Tôn gọi Bà Ðãi thị Huệ. Bà là bạn đời của Ngài Lê Văn Trung (Quyền Giáo Tông). Bà là người Việt gốc Hoa. Chữ Ðường là chỉ người Trung Hoa.

H…: Huệ, Bà Ðãi thị Huệ (họ Ðãi cũng nói là Ðái).

Phụ ghi: Nguyên bản chánh in là: … Bà là phu nhân của Ngài Lê Văn Trung …
Chúng tôi xin đề nghị: … Bà là bạn đời của Ngài Lê Văn Trung … (được sự đồng thuận của tác giả).

Sao chép đường dẫn

Bài 20: Thánh giáo dạy thọ truyền bửu pháp và luyện đạo

Ngọc Ðàn (Vĩnh Nguyên Tự, Cần Giuộc). Thứ bảy, 17-7-1926 (âl 8-6-Bính Dần)

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ viết
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
giáo đạo Nam phương

Hỉ chư môn đệ, chư ái nữ.

Ðại hỉ! Ðại hỉ!

Ngọc Ðầu Sư khả tu truyền pháp, thuyết đạo.

Kẻ nào trai giới đặng 10 ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng.

Chư môn đệ phải trai giới. Vì tại sao?

Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quí báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Thầy cắt nghĩa:

Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel, mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh, Khí, Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh, Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần không có Tinh, Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân.

Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng.

Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết.

Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.

Như rủi bị huờn, thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d’électricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt.

Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.

Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.

Chú thích

Ngọc Ðầu Sư: Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Trai giới: Giới luật về ăn chay.

Bửu pháp: Phép luyện đạo quí báu.

Cựu Luật: Luật pháp thời xưa, tức là Luật pháp thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Luật pháp thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thì gọi là Tân Luật.

Ðức Chí Tôn mở ra thời kỳ Ðại Ân Xá, nên ban ơn cho môn đệ ăn chay đủ 10 ngày trong mỗi tháng thì được thọ truyền bửu pháp luyện đạo, nhưng khi đã vào Tịnh Thất để luyện đạo thì buộc phải ăn chay trường (trường trai) để việc luyện đạo mới đạt được kết quả tốt đẹp. (Câu Thánh ngôn cuối).

Nhị xác thân: Xác thân thứ nhì, thường được gọi là Chơn thần, hay Xác thân thiêng liêng.

Ðiển quang: Ánh sáng truyền đi giống như làn sóng điện, nhưng làn sóng điện thì có tần số thấp, còn ánh sáng thì có tần số rất cao. Do đó, ánh sáng và sóng điện đều có cùng bản chất sóng, nên gọi là Ðiển quang, chỉ khác nhau nơi tần số cao thấp mà thôi.

Trược khí: Chất khí ô trược. Ở đây, chất trược khí ấy được tạo ra bởi các loại thực phẩm thịt cá do ăn mặn.

Bon conducteur d’électricité: (Tiếng Pháp) Chất dẫn điện tốt.

5 1 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết