Kinh văn

(Giọng Nam Xuân)

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ,

Di Lặc đương thâu thủ phổ duyên.

Tái sanh sửa đổi chơn truyền,

Khai cơ tận độ cửu tuyền diệt vong.

Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị,

Cõi Tây phang đuổi quỉ trừ ma.

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

Thâu các Đạo hữu hình làm một,

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

Tạo Đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền CHÍ TÔN.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần1Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )

THÍCH CA MÂU NI VĂN PHẬT

Ghi chú: Khi làm Tiểu Tường rồi, đếm đủ 300 ngày thì làm Đại Tường.

Diễn nghĩa

Kinh Đại Tường
Ảnh minh họa Kinh Đại Tường

Câu 1-2: Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ, Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

Ðức Di Lạc Vương Phật chưởng quản tầng Trời Hỗn Nguơn Thiên. Ngài đảm nhận việc thu nhận và gìn giữ những người có duyên tu hành ở khắp nơi trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Câu 3-4: Tái sanh sửa đổi Chơn truyền, Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

Đức Di Lặc Vương Phật sẽ giáng linh xuống cõi trần một lần nữa để sửa đổi lại những giáo pháp của các nền Tôn giáo xưa và cả những điều đã bị sai lạc trong Đạo Cao Đài cho đúng với chơn truyền. Do nhiều giáo lý đã bị người đời canh cải làm sai lạc rất nhiều. Đức Phật Di Lặc cho bãi bỏ Địa ngục và mở ra một cơ quan tận độ chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Câu 5-6: Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị, Cõi Tây Phang đuổi quỉ trừ ma.

Ðức Di Lạc Vương Phật mở Ðại Hội Long Hoa để tuyển chọn những bậc hiền lương đạo đức, có đầy đủ công đức để phong thưởng vào ngôi vị Phật. Nơi cõi Tây phương Cực Lạc, Ðức Phật Di Lạc xua đuổi và trừ khử ma quỉ không cho lộng hành, thử thách bậc chân tu.

Câu 7-8: Giáng linh Hộ Pháp Di Đà, Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

Ðức Phật Di Lạc chiết chơn linh giáng xuống trần làm một vị Phật Hộ Pháp, dùng bửu pháp Giáng Ma Xử chuyển động để xua đuổi các loài tà ma yêu quái.

Câu 9-10: Thâu các Đạo hữu hình làm một, Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

Ðức Di Lạc Vương Phật thâu gom các nền tôn giáo lớn hiện nay vào một mối duy nhất, lập thành một nền Ðại Ðạo. Ðức Chí Tôn lập ra một Trường thi Công quả tuyển phong Tiên vị và Phật vị, giao cho Ðức Di Lạc làm Chánh chủ khảo, duyệt xét tội tình của nhơn sanh để chấm thi đậu rớt.

Câu 11-12: Tạo đời cải dữ ra hiền, Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

Tạo lập đời Thượng nguơn Thánh đức bằng cách giáo hóa người dữ thành người hiền, gìn giữ sự sống cho chúng sanh, nắm giữ quyền pháp huyền diệu của Ðức Chí Tôn.

Giải thích từ ngữ

Kinh Đại Tường là bản kinh nằm trong bộ Kinh Tận Độ – Cửu Thiên Thập Nhị Kinh hay còn được gọi với tên Kinh Cúng Tuần Cửu thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Kinh này do Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật giáng cơ truyền kinh trong Đạo Cao Đài. 

Kinh Đại Tường được trì tụng vào dịp Lễ Đại Tường cho người quá cố, tính từ khi làm Lễ Tiểu Tường sau 300 ngày thì làm Lễ Đại Tường. Thân nhân người quá cố nên tụng trì bài này thường xuyên kể từ lúc làm Lễ Đại Tường cho đến hết 3 năm, tới ngày giỗ thứ 3 thì thôi.

Chú ý quan trọng:

Từ ngày làm lễ Đại Tường xong, nếu có nhiều thời gian thì thường xuyên tụng Kinh Tận Độ gồm các bài kinh như:

  • Kinh Cầu Siêu tụng tiếp sau đó Kinh Khi Đã Chết Rồi
  • Kinh Khai Cửu và 9 bài Kinh Cửu, Kinh Tiểu Tường, Kinh Đại Tường
  • Kinh Di Lặc.

Vì lẽ chân hồn người quá cố đang ở cảnh giới nào, vượt các kỳ thi đến đâu rồi, đã tịnh hóa ở mức nào và đang tu dưỡng ở đâu, có thực sự đã siêu thăng chưa hay vẫn còn quyến luyến hồng trần với Cửu Huyền Thất Tổ của mình… không ai biết chính xác được việc này. Thế nên thường trì tụng các bản kinh này sẽ giúp chân hồn ấy được tịnh hóa, buông xả vướng mắc chấp niệm của mình với thế tục tình trường, sớm ngày siêu thăng tịnh độ nơi miền an lạc.

Theo ý nghĩa Bài Kinh Đại Tường, Đức Phật Thích Ca cho biết vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Di Lặc Vương Phật cai quản từng Hỗn Nguơn Thiên và làm Chánh chủ khảo Long Hoa Hội để tuyển phong những người hiền đức, có nhiều công nghiệp vào ngôi vị Phật.

Ngài còn giáng Chơn linh xuống làm Hộ Pháp Di Đà để dùng Giáng Ma Xử trừ tà tinh quỉ quái, thâu các mối Đạo hữu hình làm thành nền Đại Đạo, thực hiện giềng bảo sanh của Đức Chí Tôn và lập đời Thánh Đức.

Câu 1-2:

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ,

Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

Hỗn Nguơn Thiên 混 元 天: Theo Di Lặc Chơn Kinh, Hỗn Nguơn Thiên là một tầng Trời thứ 12 do Đức Di Lặc Vương Phật chưởng quản.

Dưới quyền Giáo Chủ: Dưới quyền chưởng quản của Giáo Chủ là Đức Di Lặc Vương Phật.

Đương 當: Đang lúc, đảm đương hay đảm trách.

Thâu thủ 收 守: Thâu nhận và gìn giữ.

Phổ duyên 普 緣: Cứu giúp những người hữu duyên ở khắp mọi nơi.

Ðương thâu thủ phổ duyên: Nhận lãnh việc thâu nhận và gìn giữ những người có duyên tu hành ở khắp nơi.

C.1-2: Ðức Di Lạc Vương Phật chưởng quản tầng Trời Hỗn Nguơn Thiên. Ngài đảm nhận việc thu nhận và gìn giữ những người có duyên tu hành ở khắp nơi trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Câu 3-4:

Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

Tái sanh 再 生: Được sinh lại một lần nữa. Ý nói Đức Phật Di Lặc sẽ giáng linh lại một lần nữa.

Sửa đổi: Cải sửa giáo pháp lại cho phù hợp với thời kỳ và trình độ của chúng sanh.

Chơn truyền 真 傳: Giáo pháp chơn thật của một nền Tôn giáo được các vị Giáo chủ hay Tổ sư truyền lại sau này cho chúng sanh. Nếu tu hành đúng y theo đó thì nhất định sẽ được đắc đạo.

Ngũ giáo thất chơn truyền:

Ở Á Ðông có Tam giáo: Phật, Lão, Nho; ở Âu Mỹ Châu có Thiên Chúa giáo với 2 chi phái lớn là Chính Thống giáo và Tin Lành; ở Trung Ðông có Hồi giáo, cả thảy là 5 tôn giáo lớn trên Thế giới mở ra vào thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, đã cứu độ nhơn sanh được hơn 2000 năm nay.

Năm nền tôn giáo lớn nầy theo thời gian, đã bị những người lãnh đạo sửa cải dần dần, mỗi vị sửa một ít, đến nay thì Chơn truyền đã gần như sai lạc hẳn, cho nên người tu thì nhiều mà đắc đạo thì không có mấy người.

Do đó, Ðức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ với tôn chỉ qui nguyên Tam giáo, phục nhất Ngũ Chi, Ðức Di Lạc Vương Phật là Ðấng được Ðức Chí Tôn ủy nhiệm thực hiện Cơ Qui Nhất trọng đại nầy, đem các nền tôn giáo trở về gốc, sửa đổi giáo lý cho đúng với Chơn truyền của buổi ban đầu.

Khai cơ 開 機: Mở ra một cơ quan.

Tận độ 盡 度: Cứu giúp hết tất cả chúng sanh không chừa một ai, không chừa một người nào.

Cửu tuyền 九 泉: Chín suối, chỉ nơi Âm Phủ.

Tương truyền nơi cõi Âm Phủ có chín ngọn suối cát màu vàng, nên người ta thường gọi Âm Phủ chín suối hay suối vàng (Huỳnh tuyền 黃 泉).

Diệt vong 滅 亡: Làm cho mất hết.

C.3-4: Đức Di Lặc Vương Phật sẽ giáng linh xuống cõi trần một lần nữa để sửa đổi lại những giáo pháp của các nền Tôn giáo xưa và cả những điều đã bị sai lạc trong Đạo Cao Đài cho đúng với chơn truyền. Do nhiều giáo lý đã bị người đời canh cải làm sai lạc rất nhiều. Bãi bỏ Địa ngục và mở ra một cơ quan tận độ chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Câu kinh nầy đúng theo Thánh ý của Ðức Chí Tôn: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là Ðại Ân Xá kỳ ba, để tận độ chúng sanh trước khi chấm dứt một giai đoạn tiến hóa cũ, bắt đầu một giai đoạn tiến hóa mới của nhơn loại nơi quả Ðịa cầu 68 nầy.

Vô Ðịa ngục, vô quỉ quan,

Chí Tôn Ðại Xá nhứt trường qui nguyên.

Phật Mẫu Chơn Kinh

Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên,

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.

Kinh Giải Oan

Người tín đồ Cao Ðài phải hằng tâm ghi nhớ để luôn luôn cầu nguyện Ðức Chí Tôn cứu rỗi trong hồng ân của Ngài.

Câu 5-6:

Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị,

Cõi Tây Phang đuổi quỉ trừ ma.

Hội Long Hoa 龍 花 會: Một đại hội do Đức Di Lặc Vương Phật làm chủ khảo để tuyển lựa người hiền đức vào hàng Tiên, Phật vị.

Long hoa 龍 花 là một loại cây có hình giống như một con rồng, có nở hoa. Do Đức Phật Di Lặc đắc đạo tại cội cây Long hoa này, nên khi Ngài mở và làm chủ một Đại hội, được gọi là Đại hội Long Hoa. Đại hội, có nhiệm vụ tuyển chọn những bậc hiền lương, đạo đức, không phân biệt chủng tộc, nòi giống, hiệp nhau làm một trong cuối thời kỳ Hạ nguơn Tam chuyển để tạo dựng lại đời Thượng nguơn Tứ chuyển, tức Thượng nguơn Thánh đức.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo: Nơi Cung Hỗn Nguơn Thiên cốt yếu là nơi chung họp cùng các Ðấng Chơn hồn cao siêu, trí thức thông minh, kể từ bậc Thiên Tiên cho đến Phật vị, đều đến ở nơi đây, đặng tạo dựng đại nghiệp của mình. Cả toàn thể trong Càn Khôn Vũ Trụ, hoặc tiêu diệt, hoặc biến sanh, cũng do nơi đó cầm Chơn pháp quyết định. Nơi đây là nơi quyết định chương trình Long Hoa Ðại Hội của toàn thể vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.”

Tuyển phong 選 封: Chọn lựa người hiền lương, đạo đức, đầy đủ công nghiệp để phong thưởng.

Phật vị 佛 位: Ngôi vị Phật.

Cõi Tây phang: Hay cõi Tây phương 西 方 tức là chỉ cõi Tây phương Cực Lạc, hoặc Cực Lạc Thế Giới của Đức A Di Đà Phật.

Đuổi quỉ trừ ma: Xua đuổi và trừ khử ma quỉ.

Đạo cao ma khảo, hễ có trường thi công quả tất có cơ khảo thí theo phép công bình Thiên đạo để chịu cơ thử thách mà người tu không sa ngã mới đáng đăng tên vào Tiên tịch, nên ma khảo thời kỳ nào cũng có và ở bất cứ nơi đâu, Thánh giáo có dạy: “Các con hiểu rằng, trong Tam thiên Thế giới còn có quỉ mị chuyển kiếp ở lộn cùng các con thay, huống lựa là Thất thập nhị Địa này, sao không có cho đặng?”. Ở cõi Tây phương ma quỉ tà quái cũng có để khảo các bậc chơn tu, nhưng dù có lộng hành đi nữa, thì Đức Phật Di Lặc, Giáo chủ cõi đó có nhiệm vụ xua đuổi và trừ khử chúng.

C.5-6: Ðức Di Lạc Vương Phật mở Ðại Hội Long Hoa để tuyển chọn những bậc hiền lương đạo đức, có đầy đủ công đức vào ngôi vị Phật. Nơi cõi Tây phương Cực Lạc, Ðức Phật Di Lạc xua đuổi và trừ khử ma quỉ không cho lộng hành, thử thách bậc chân tu.

Câu 7-8:

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

Giáng linh 降 靈: Chiết chơn linh giáng xuống cõi trần. Thường thì các Ðấng Thiêng liêng chiết chơn linh giáng sanh xuống cõi trần, như Ðại Tiên Lý thiết Quả chiết chơn linh giáng sanh xuống trần là Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung. Đức Quan Âm Bồ Tát là do Từ Hàng Bồ Tát giáng Chơn linh xuống phàm rồi tu hành đắc quả.

Di Ðà: Phiên âm từ tiếng Phạn, nghĩa là Phật.

Hộ Pháp Di Đà 護 法 彌 陀: Theo Phật giáo, Hộ Pháp Di Đà là vị Thần bảo vệ Phật pháp, hộ trì Tam bảo, giữ gìn cho Phật pháp được tồn tại. Trong các chùa Phật, người ta thường thờ tượng Hộ Pháp Di Đà cầm cây Giáng ma xử đặt nơi bàn thờ đối diện với Đại Hùng Bửu Điện, tức Chánh điện Phật.

Theo Đạo Cao Đài, Hộ Pháp là một phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài cao nhứt, nắm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, đối phẩm với hàng Phật vị.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, đêm 22 rạng 23 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn trục xuất Chơn thần của Ngài Phạm Công Tắc để Chơn thần Ngự Mã Thiên Quân nhập vào thân xác Phạm Công Tắc. Vì thế, Ngài Phạm Công Tắc trở thành Hộ Pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Nguyên căn Ngài Phạm Công Tắc là Ngự Mã Thiên Quân, được phong Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ.

Nơi Tòa Thánh Tây Ninh, Đức Hộ Pháp được thờ đối diện với ngôi Chánh Điện Đức Chí Tôn, hai bên Ngài là Thượng Phẩm và Thượng Sanh, sau lưng Ngài vẽ chữ Khí để thờ. Ngài ngự trên thất đầu xà, mình mặc Kim Khôi Kim Giáp, tay cầm cây Giáng ma xử.

Ma xử: Hay gọi Ma chử 魔 杵 là viết tắt của Giáng ma xử hay Hàng ma xử, nghĩa là cái chày để hàng phục ma vương quỉ quái. Cây Giáng ma xử là một bửu bối của Vi Hộ, sau thành Hộ Pháp, trong truyện Phong Thần, hay Đức Hộ Pháp trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài.

Ðuổi tà trục tinh: Tà tinh là tà ma tinh quái, chỉ chung loài ma quỉ yêu quái. Trục là xua đuổi. Ðuổi tà trục tinh là xua đuổi bọn tà ma yêu quái.

C.7-8: Ðức Phật Di Lạc chiết Chơn linh giáng xuống trần làm một vị Phật Hộ Pháp, dùng bửu pháp Giáng Ma Xử chuyển động để xua đuổi các loài tà ma yêu quái.

Câu 9-10:

Thâu các Đạo hữu hình làm một.

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên,

Thâu các Đạo hữu hình làm một: Thâu các Tôn giáo hiện có ở nơi thế gian làm thành một nền Đại Đạo, có một tín ngưỡng duy nhất dưới quyền giáo hóa của Đức Di Lặc Vương Phật.

Trường thi Tiên Phật: Tức là một trường thi để tuyển chọn người có phẩm hạnh hoàn toàn, và có công lao xứng đáng để đắc vào quả Tiên Phật. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Người dưới thế này, muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo, phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc Đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ”.

Trường thi Tiên Phật là một trường thi trong kỳ Đại hội Long Hoa do Đức Di Lặc Vương Phật làm chủ khảo để tuyển lựa và phong thưởng những bậc hiền lương đạo đức vào Tiên hay Phật vị.

Dượt: Tức là khảo duyệt, nghĩa là thử thách để đánh giá trị cao hay thấp.

Kiếp khiên 愆 劫: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống nơi cõi thế gian.

Dượt kiếp khiên: là xem xét những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống nơi cõi trần để chấm điểm cao thấp.

C.9-10: Ðức Di Lạc Vương Phật thâu gom các nền tôn giáo lớn hiện nay vào một mối duy nhất, lập thành một nền Ðại Ðạo. Ðức Chí Tôn lập ra một Trường thi Công quả tuyển phong Tiên vị và Phật vị, giao cho Ðức Di Lạc làm Chánh chủ khảo, duyệt xét tội tình của nhơn sanh để chấm thi đậu rớt.

Câu 11-12:

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

Tạo đời: tạo lập lại đời Thượng Ngươn Thánh Đức.

Cải dữ ra hiền: Giáo hóa để sửa đổi người hung dữ thành người hiền lành. Bảo sanh: Gìn giữ sự sống theo đức háo sanh của Thượng Ðế.

Diệu huyền: ý nói sự sống màu nhiệm mà Đức Chí Tôn ban cho.

C.11-12: Tạo lập đời Thượng nguơn Thánh đức bằng cách giáo hóa người dữ thành người hiền, gìn giữ sự sống cho chúng sanh, nắm giữ quyền pháp huyền diệu của Ðức Chí Tôn.

Nguồn gốc

Bài Kinh Đại Tường do Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. 

Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật:

Là một tôn danh của Đức Phật Thích Ca nơi Cực Lạc Quốc. Giờ đây Ngài đang thuyết Pháp dẫn độ cho chư linh, chư Thánh được luôn tinh tấn, an tịnh mà cao thăng quả vị.

5 4 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết