Kinh văn
(Giọng Nam Xuân)
Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,
Chơn Thần khá đến hội hàng chư linh.
Đã thấy đủ Thiên đình huyền pháp,
Cổi giác thân lên đạp Ngân Kiều.
Đẩu Tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,
Kim Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.
Khí trong trẻo dường như băng tuyết,
Thần im đìm dường nét thiều quang.
Xa chừng thế giái Địa hoàn,
Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ nhàng cao thăng.
Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần1Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )
NHỊ NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG
Diễn nghĩa

Câu 1-2: Tây Vương Mẫu vườn Ðào ướm chín, Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Nơi Diêu Trì Cung có vườn Đào Tiên của Phật Mẫu, trái vừa sắp sửa chín. Chơn thần lên đến Vườn Ðào Tiên thì có lịnh của Ðức Phật Mẫu ban cho chén rượu Tiên, để Chơn hồn uống vào được trường sanh.
Câu 3-4: Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng, Chơn thần khá đến hội hàng chư Linh.
Yến tiệc long trọng đã chuẩn bị sẵn sàng, Chơn thần nên đến tham dự để hội họp cùng các Ðấng Thiêng liêng (đây là đoạn nhắc nhở để Chơn hồn nhớ lại chứ chưa về đến Cửu Trùng Thiên dự Hội Yến Diêu Trì Cung).
Câu 5-6: Ðã thấy đủ Thiên đình huyền pháp, Cổi giác thân lên đạp Ngân kiều.
Đến đây Chơn thần đã thấy đủ các phép biến hoá huyền diệu của cõi Thiêng Liêng thì mới quyết tâm cởi bỏ xác thân phàm. Chơn thần nhẹ nhàng đặt chân lên Ngân kiều để chuẩn bị đi qua biển khổ.
Câu 7-8: Ðẩu tinh chiếu thấu Nguyên tiêu, Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.
Sao Bắc Ðẩu chiếu sáng thấu đến từng Trời thứ nhứt. Lằn ánh sáng vàng tạo thành chiếc kiệu đỡ gót Chơn thần đưa đến chầu Ðức Chí Tôn nơi Ngọc Hư Cung.
Câu 9-10: Khí trong trẻo dường như băng tuyết, Thần im đìm dường nét thiều quang.
Chơn thần thì trong trẻo tinh khiết như băng tuyết, còn Chơn linh thì im lìm và đẹp như ánh sáng mùa Xuân.
Câu 11-12: Xa chừng thế giới Ðịa hoàn, Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ nhàng cao thăng.
Chơn thần đã đi khá xa cõi trần. Sau khi nhìn thấy cõi Thiêng Liêng Hằng Sống đẹp đẽ Chơn thần không còn vướng bận chuyện trần thế nên nhẹ nhàng bay lên cao.
Giải thích từ ngữ
Kinh Đệ Nhị Cửu do đức Nhị Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban kinh. Bản kinh này được tụng ở Tuần Cửu thứ 2, được tính từ Tuần Sơ Cửu tức Nhất Cửu đếm thêm 9 ngày thì tụng bản này. Nếu có nhiều thời gian thì thân nhân thường xuyên trì tụng trong suốt thời gian 9 ngày của Tuần Cửu này.
Lúc bấy giờ Chơn hồn đang trong giai đoạn tịnh tâm, thức tỉnh. Nếu Chơn hồn nào đã định tỉnh được hồn phách, tinh thần, ý chí của mình vững vàng, buông xả các thế tình tục sự thì có thể bước lên Thuyền Bát Nhã Từ Hàng của Đức Từ Hàng Bồ Tát dẫn độ qua Ngân Hà, tiến về Bạch Ngọc Kinh.
Lưu ý rằng hiện tại ở thời điểm bắt đầu tụng Kinh Tuần Cửu này, chỉ mới 18 ngày sau khi Chơn hồn vừa rời khỏi xác. Thế nên việc Chơn hồn ấy chưa định tỉnh tâm thần, chưa an tịnh thần trí, chưa buông xả được trần tình khổ hải thì Chơn hồn ấy vẫn tiếp tục ở lại Trung Giới cõi này với nơi mà họ vướng chấp. Có thể họ ở Tòa Thánh Trung Giới, ở nhà mình, mộ phần của mình, hay nơi mà mình đã vong thân mạng hồn lìa khỏi xác.
Tây Vương Mẫu vườn Ðào ướm chín,
Chén trường sanh có lịnh ngự ban.
Tây Vương Mẫu 西 王 母: Một danh hiệu của Ðức Phật Mẫu.
Vườn Ðào: Vườn trồng cây Đào Tiên nơi Diêu Trì Cung. Đào Tiên là một loại cây có trái rất quí, chín ngàn năm mới có trái chín một lần, nên khi ăn được trái Đào Tiên thì được trường sanh bất tử.
Theo Đức Hộ Pháp, nơi Diêu Trì Cung, “Phật Mẫu trụ sanh quang lại thành một khối gọi là quả Đào Tiên, đủ phép sống vĩnh viễn trường tồn nơi cõi Hư Linh”.
Hội Yến Bàn Đào là một bữa tiệc mà Đức Phật Mẫu dành ban thưởng cho các Chơn linh đắc quả về hội hiệp cùng Ngài.
Ðức Phật Mẫu dùng trái Ðào Tiên làm phần thưởng cho các Chơn linh đắc đạo trở về đến bái kiến Ðức Phật Mẫu.
Ướm chín: Trái cây vừa mới bắt đầu chín, màu hơi ửng lên.
Chén: Một vật để đựng rượu, từ Hán Việt gọi là bôi 杯.
Trường sanh 長 生: Sống lâu dài. Đây là một loại rượu nơi cõi Thiêng Liêng, uống vào thì được trường thọ.
Chén trường sanh: Chén rượu trường sanh.
Ngự ban 御 頒: Là một tiếng tôn xưng để chỉ Tây Vương Mẫu ban tặng.
C.1-2: Nơi Diêu Trì Cung có vườn Đào Tiên của Phật Mẫu, trái vừa sắp sửa chín. Chơn thần lên đến Vườn Ðào Tiên thì sẽ có lịnh của Ðức Phật Mẫu ban cho chén rượu Tiên, để Chơn hồn uống vào được trường sanh.
Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,
Chơn thần khá đến hội hàng chư Linh.
Hồng 洪: Lớn. Tiệc hồng: Yến tiệc to lớn, tiệc long trọng, có nhiều người tham dự.
Khá đến: Nên đến. Hội hàng: Hội hè, hội họp. Chư Linh 諸 靈: Các Ðấng Thiêng Liêng. Chư là nhiều vị, Linh là thiêng liêng.
C.3-4: Yến tiệc long trọng đã chuẩn bị sẵn sàng, Chơn thần nên đến tham dự để hội họp cùng các Ðấng Thiêng liêng.
Đức Phật Mẫu thương xót chúng sanh đang trầm luân trong khổ hải, nên Ngài cùng Cửu Vị Tiên Nương hằng tìm cách tận độ tất cả chúng sanh về với cung Diêu Trì, bên Bà Mẹ Thiêng Liêng. Trong bài Kinh “Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu” có câu:
Ngồi trông con đặng phi thường,
Mẹ đưa con đến tận đường hằng sanh.
Chính vì thế, Chơn linh nào đắc Đạo sẽ được Phật Mẫu ban thưởng, được Nhị Nương tiếp rước vào nhập tiệc Bàn Đào, cùng dự với chư Thiêng Liêng. Theo Đức Hộ Pháp, Hội Yến Diêu Trì là ăn được quả Đào Tiên, uống được Tiên tửu, mới nhập vô cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống gọi là Nhập Tịch. Đây là phần thưởng cao trọng cho các Chơn linh đắc quả.
Chú ý: Đây là đoạn Chơn hồn được chư vị Chánh Thần nhắc nhở, được cho thấy sự đẹp đẽ màu nhiệm của cõi Thiên, mau mau định tỉnh rồi về cõi Thiên mà dự Hội Bàn Đào do Đức Phật Mẫu ban cho thưởng thức chén Trường Sinh, để có thể ở được cõi Thiên dài lâu. Lúc này Chơn hồn chưa có được dự hội gì cả.
Ðã thấy đủ Thiên đình huyền pháp,
Cổi giác thân lên đạp Ngân kiều.
Thiên đình 天 廷: Triều đình nơi cõi Thiêng Liêng. Chỉ cõi Trời.
Huyền pháp 玄 法: Phép huyền diệu.
Cổi: Bỏ ra. Giác thân 覺 身: Giác là biết, thân là xác thân. Giác thân là xác thân có các cơ quan để nhận biết các sự vật và hiện tượng chung quanh. Ðây là xác thân phàm của con người có ngũ giác quan (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Da). Cổi Giác thân: Bỏ đi cái xác thân phàm, đừng luyến tiếc nó.
Ngân kiều 銀 橋: Ngân là sông Ngân, Ngân Hà; Kiều là cây cầu. Ngân kiều là cây cầu bắc qua Ngân Hà. Ngân Hà là con sông lớn nơi cõi Thiêng liêng, chia cách tình yêu của Ngưu Lang và Chức Nữ, đó là dòng sông đau khổ, nối liền với biển khổ, nên nó cũng được xem như biển khổ.
C.5-6: Đến đây Chơn thần đã thấy đủ các phép biến hoá huyền diệu của cõi Thiêng Liêng thì mới quyết tâm cởi bỏ xác thân phàm. Chơn thần nhẹ nhàng đặt chân lên Ngân kiều để chuẩn bị đi qua biển khổ.
Ðẩu tinh chiếu thấu Nguyên tiêu,
Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.
Ðẩu tinh 斗 星: Tinh là ngôi sao, Ðẩu tinh là ngôi sao Bắc Ðẩu. Nguyên tiêu 元 霄: Nguyên là bắt đầu, thứ nhứt; Tiêu là từng Trời. Nguyên tiêu là từng Trời thứ nhứt. Ở đây, Nguyên tiêu không có nghĩa là đêm rằm tháng giêng.
Kim quang 金 光: Lằn ánh sáng màu vàng. Kiệu 轎: Ðồ dùng sang trọng để ngồi trên đó có người khiêng đi. Kiệu đỡ: Ngồi lên kiệu có người khiêng đi. Kim quang kiệu đỡ: Ánh sáng màu vàng làm như chiếc kiệu để đỡ Chơn hồn đi. Đến triều: Tới để chầu lễ.. Ngọc Hư: Ngọc Hư Cung.
C.7-8: Sao Bắc Ðẩu chiếu sáng thấu đến từng Trời thứ nhứt. Lằn ánh sáng vàng tạo thành chiếc kiệu đỡ gót Chơn thần đưa đến chầu Ðức Chí Tôn nơi Ngọc Hư Cung.
Lúc này, sau khi đã trải qua một thời gian dài tịnh hóa, Chơn hồn được an tịnh nhiều rồi, có thể bước lên chuyến thuyền Bát Nhã của Đức Từ Hàng Bồ Tát vượt qua Ngân Hà. Sau đó sẽ được kim quang kiệu đón rước về Ngọc Hư Cung, nơi ngự của Đức Chí Tôn.
Khí trong trẻo dường như băng tuyết.
Thần im đìm dường nét thiều quang.
Khí và Thần 氣 神: Là hai trong ba thể Tam bửu của con người. Tinh là xác thân đã bị giải thể, Khí là Chơn thần và Thần là Chơn linh.
Băng tuyết: Băng là nước đong lại thành những tảng lớn, thấy trong suốt. Tuyết là hơi nước gặp lạnh ở dưới 0oC, đông lại thành những hạt nhỏ rơi xuống trắng xóa. Băng tuyết là chỉ sự trong sạch. Im đìm: Hoàn toàn im lặng.
Thiều quang 韶 光: Thiều là đẹp, quang là ánh sáng. Thiều quang là ánh sáng đẹp. Ðó là ánh sáng của mùa Xuân.
C.9-10: Chơn thần thì trong trẻo tinh khiết như băng tuyết, còn Chơn linh thì im lìm và đẹp như ánh sáng mùa Xuân.
Chơn thần và Chơn linh của người tu hành khi thoát khỏi hình hài trọng trược nơi thế gian rồi, thì Chơn thần là một thể khí trong sạch như băng tuyết và được nhẹ nhàng thanh thoát, cùng với Thần hay Chơn linh là một lằn ánh sáng đẹp đẽ, im đìm, cả hai đều cùng trở về với cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.
Xa chừng thế giới Ðịa hoàn,
Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ nhàng cao thăng.
Xa chừng: Chừng là mức độ hạn định một cách đại khái. Xa chừng là đã khá xa chỗ đó. Ðịa hoàn 地 環: Ðịa là đất, hoàn là vùng đất lớn. Ðịa hoàn là Ðịa cầu. Thế giới Ðịa hoàn: Ý nói Ðịa cầu 68 của nhơn loại.
Cõi Thiên đẹp thấy: Thấy được cõi Thiêng Liêng đẹp đẽ. Cao thăng 高 升: Lên cao.
C.11-12: Chơn thần đã đi khá xa cõi trần. Sau khi nhìn thấy cõi Thiêng Liêng Hằng Sống đẹp đẽ Chơn thần không còn vướng bận chuyện trần thế nên nhẹ nhàng bay lên cao.
Nguồn gốc
Bài Kinh Đệ Nhị Cửu do Nhị Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.
Nhị Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ nhì trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Nhị Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên trái Đức Phật Mẫu, tay ôm Lư hương.
Đức Nhị Nương từng có một kiếp giáng trần là một vị thuộc hoàng tộc bên Campuchia. Một bài thơ tiêu biểu của Đức Nhị Nương còn lưu lại:
Cẩm Tú thi văn hà khách Đạo?
Thi Thần, Tửu Thánh vấn thùy nhân?
Tuy mang lấy tiếng hồng quần
Cảnh Tiên còn mến, cõi trần anh thư.
Diễn nghĩa:
Có người khách Đạo mà tài thi văn tuyệt hảo như gấm thêu chăng?
Làm thơ như Thần, uống rượu như Thánh hỏi được mấy ai?
Tuy mang tiếng là phận nữ nhi
Quý mến cảnh tu Tiên, cõi trần thì là bậc anh thư sánh như các anh hùng nam nhân.
Đây là bốn câu thơ hàm ý về thân phận của Ngài lúc giáng trần khi xưa.
Nhị Nương có nhiệm vụ dìu dắt các Chơn hồn đến Ngân Kiều để cỡi Kim quang bay lên Ngọc Hư Cung chầu Thượng Đế.





