Kinh văn

(Giọng Nam Xuân)

Đã quá chín tầng Trời đến vị,

Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.

Tầng Trời gắng bước lên thang,

Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi.

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

Ngó chi khổ hải sóng xao,

Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi thiên.

Giọt lụy của Cửu huyền dầu đổ,

Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân.

Nắm cây huệ kiếm gươm thần,

Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát

THƯỜNG CƯ NAM HẢI QUAN ÂM NHƯ LAI

Lưu ý: Mỗi tuần cửu phải tụng bài kinh này trước rồi tiếp tụng bài Nhứt Cửu hay Nhị Cửu v.v…, hoặc Tiểu Tường hay Đại Tường (tụng 3 lần như vậy).

Diễn nghĩa

Kinh Khai Cửu
Ảnh minh hoạ Kinh Khai Cửu

Câu 1-2: Ðã quá chín từng Trời đến vị, Thần đặng an, Tinh Khí cũng an. 

Đã tới lúc vượt qua chín tầng Trời để về với phẩm vị của mình. Lúc này tất cả Tinh, Khí, Thần đều đã an tịnh. Tinh là thể xác đã chết và  được an tịnh nơi Hạ Giới. Thần Khí là phần Chơn hồn thì an nhiên tự tại nơi vô hình.

Câu 3-4: Tầng Trời gắng bước lên thang. Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

Chơn linh phải cố gắng bước đi trên Con Đường Liêng Liêng Hàng Sống từ thấp lên cao. Nhìn về Thiên Giới làm Chơn hồn nhớ lại cảnh nhàn nhã của quê xưa cảnh cũ, lúc còn ở nơi cõi Thiêng Liêng, chưa đầu kiếp xuống trần.

Câu 5-6: Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi. Quên trần ai, mong mỏi Ðộng Ðào.

Cõi thảm khổ nơi trần gian vừa qua rồi, Chơn hồn hãy quên hết những đau khổ bi ai mà hướng về nơi Tiên cảnh.

Câu 7-8: Ngó chi khổ hải sóng xao, Ðoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.

Nhìn làm gì những lượn sóng xao động nơi trần ai đau khổ. Hãy cắt đứt hết mọi tình cảm phàm tục, không lưu luyến những dục vọng thường tình nữa, cần dẹp trừ hết, buông xả các vướng chấp mới vào cõi Thiên được.

Câu 9-10: Giọt lụy của Cửu Huyền dầu đổ, Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân.

Dầu cho những người thân yêu đổ lệ khóc than thương tiếc cái chết của mình thì mình cũng không nên đau lòng mà bị lôi kéo trở lại cõi trần để phải chịu chìm đắm trong vòng luân hồi.

Câu 11-12: Nắm cây huệ kiếm gươm thần, Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

Cầm chặt cây kiếm trí huệ huyền diệu để dẹp hẳn việc đời và chặt đứt các món nợ oan nghiệt ràng buộc con người vào cõi trần thì mới có thể trở về cõi thiêng liêng.

Giải thích từ ngữ

Tuần Cửu: Tuần là khoảng thời gian đều đặn gồm nhiều ngày, Cửu là 9. Tuần Cửu là khoảng thời gian 9 ngày.

Một tín đồ Cao Ðài khi mất đi được thân nhân làm Tuần Cửu tại Thánh Thất sở tại, với một nghi thức đặc biệt ấn định trong Nghi Lễ của Ðạo Cao Ðài.

Cứ sau khi chết được 9 ngày thì thân nhân đến Thánh Thất sở tại làm Tuần Nhứt Cửu, rồi tiếp theo đếm 9 ngày nữa thì làm Tuần Nhị Cửu, vv., cho đến Tuần Cửu Cửu mới chấm dứt Tuần Cửu, tổng cộng là 81 ngày.

(Phật giáo thì làm Tuần Thất [Tuần 7 ngày], sau khi chết được 7 ngày thì làm Tuần Thất thứ nhứt, sau 7 ngày nữa thì làm Tuần Thất thứ nhì, vv. và tiếp tục đến Tuần Thất thứ bảy là chấm dứt, tính chung là 49 ngày).

  • Tuần nhứt Cửu: Ngày chết được kể là 1, đếm tới ngày thứ 9 thì làm Tuần Nhứt Cửu tại Thánh Thất sở tại, tụng Kinh Ðệ Nhứt Cửu.
  • Tuần Nhị Cửu: Tiếp tục đếm tới ngày thứ 18 thì làm Tuần Nhị Cửu, cũng làm tại Thánh Thất sở tại, tụng bài Kinh Ðệ Nhị Cửu.
    vv . . . . . . . . . . . . .
  • Tuần Cửu Cửu: Tiếp tục đếm tới ngày thứ 81 thì làm Tuần Cửu Cửu, là kỳ chót hết, nên gọi là Chung Cửu, cũng làm tại Thánh Thất sở tại y như 8 kỳ Cửu trước và tụng bài Kinh Ðệ Cửu Cửu.

Tiểu Tường: Tiểu là nhỏ, Tường là tốt lành. Tiểu Tường là điều tốt lành nhỏ. Ðại Tường là điều tốt lành lớn.

Trong nhà có tang, cả nhà đều đau buồn thương xót tưởng nhớ người quá cố. Nhưng thời gian lâu dần xoa dịu nỗi đau thương, cái buồn bớt dần, đem lại cái vui như một điều lành, điều tốt . Vì vậy, Tiểu Tường cũng là Tiểu Kiết Tường.

Theo Tân Luật của Ðạo Cao Ðài, hôm sau ngày làm Tuần Cửu Cửu, bắt đầu đếm 1, đếm tới ngày thứ 200 thì làm Lễ Tiểu Tường, cũng làm tại Thánh Thất sở tại, tụng bài Kinh Tiểu Tường.

Ðại Tường: Hôm sau ngày làm Tiểu Tường, bắt đầu đếm 1, đếm tới ngày thứ 300 thì làm Lễ Ðại Tường. Tới Ðại Tường là mãn tang, làm Lễ Trừ Phục (đốt áo tang và khăn tang).

Tính từ ngày chết đến ngày Lễ Ðại Tường mãn tang là 581 ngày, tức khoảng 1 năm 7 tháng rưỡi, chưa tới 2 năm.

Câu 1-2:

Ðã quá chín từng Trời đến vị.

Thần đặng an, Tinh Khí cũng an.

Chín từng Trời: Cửu Trùng Thiên (xem chi tiết nơi Câu 8 bài Niệm Hương). Phía trên 9 từng Trời, là từng Trời thứ 10, gọi là Hư Vô Thiên, có cõi Cực Lạc Thế Giới, là nơi hoàn toàn an vui sung sướng. Ðã quá 9 từng Trời: Ðã đi qua được 9 từng Trời, tức là đến được từng Trời thứ 10 có cõi Cực Lạc Thế Giới.

Vị: Ngôi vị. Ðến vị: Ðến chỗ đặt ngôi vị của mình.

Tinh, Khí, Thần: Ðây là Tam bửu của con người. Tinh là Thể xác, Khí là Chơn thần, Thần là Chơn linh hay Linh hồn.

Trong ba thể đó chỉ có xác thân phàm là trọng trược, vì vậy người tu hành phải có một thân phàm tinh khiết mới có thể xuất một Chơn thần tinh khiết được.

Tam bửu của người tu đắc Đạo hiệp một được Tinh, Khí, Thần và tinh tấn nhẹ nhàng hơn không khí đặng ra ngoài Càn khôn mà về với Đức Chí Tôn thì lúc ấy Tinh Khí trong sạch được an, thì Thần cũng được an ngôi vị.

C.1-2: Đã tới lúc vượt qua chín tầng Trời để về với phẩm vị của mình. Lúc này tất cả Tinh, Khí, Thần đều đã an tịnh. Tinh là thể xác đã chết và  được an tịnh nơi Hạ Giới. Thần Khí là phần Chơn hồn thì an nhiên tự tại nơi vô hình.

Câu 3-4:

Tầng Trời gắng bước lên thang.

Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

Tầng Trời: Khoảng từ hạ giới, tức cõi phàm của con người đang sinh sống lên đến Bạch Ngọc Kinh chia ra nhiều cảnh giới hay tầng Trời khác nhau, từ thấp lên cao: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

Con người khi giải thể thì Chơn linh đi lên theo từng cõi, mỗi cõi từ thấp dần dần lên cao tựa như từng nấc thang vậy. Các Chơn thần phải vượt qua từng cõi một cách cố gắng, bởi vì nó phát xuất từ quả nghiệp mà chúng ta tạo ra nơi cõi phàm. Hay nói cách khác, ngôi vị thiêng liêng của chúng ta là do quyền định đoạt của mình, đó là cái kết quả của những hành vi thiện lương hay hung ác khi còn tại thế.

Trông mây: Nhìn theo những vầng mây. Ý nói nhìn về Thiên giới.

C.3-4: Chơn linh phải cố gắng bước đi trên Con Đường Liêng Liêng Hàng Sống từ thấp lên cao. Nhìn về Thiên Giới làm Chơn hồn nhớ lại cảnh nhàn nhã của quê xưa cảnh cũ, lúc còn ở nơi cõi Thiêng Liêng, chưa đầu kiếp xuống trần.

Quê hương của Chơn hồn vốn dĩ là cõi Thiêng Liêng, là nơi mà Thượng Đế ban cho Điểm Linh Quang để thác sinh xuống cõi phàm với mục đích học hỏi kinh nghiệm và tấn hóa. Khi đến cõi phàm, Chơn hồn tạo nghiệp quả nên phải chịu sự luân hồi chuyển kiếp mãi. Đến chừng Chơn hồn ở thế biết giác ngộ mà tu hành chơn chánh, khi qui liễu thì sẽ được trở lại ngôi xưa vị cũ, tức là quê hương mà trước đây Chơn hồn đã từng sống an nhàn thanh tịnh.

Chính vì thế khi thoát xác, Chơn linh thấy nhẹ nhàng, bay bổng, nhìn theo những vầng mây nơi quê xưa cảnh cũ một cách thung dung, nhàn hạ.

Câu 5-6:

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi, Quên trần ai, mong mỏi Ðộng Ðào.

Cõi thảm khổ: Chỉ cõi trần gian.

Sở dĩ trần gian là cõi thảm khổ bởi vì nơi đây là cõi tạm bợ, uế trược và nhiều phiền não…

Sống ở cõi trần, con người có nhiều loại khổ đau như:

Khổ về thân tâm: Con người sống cõi trần thường bị khổ về hoàn cảnh ngang trái, cảm thọ bất an hay khổ về bệnh, chết.

Khổ về hoại diệt: Những thứ sắc đẹp, của cải vật chất mà mình ưa thích không bền lâu, thường bị mất nên sinh khổ.

Khổ do tâm bị dục vọng sai khiến, thúc đẩy từng giây từng phút làm cho tâm không yên ổn, tự do.

Khổ gây ra bởi sự mâu thuẩn giữa con người và thiên nhiên, cuộc sống.

Đã vừa qua khỏi: Đã được thoát khỏi.

Trần ai 塵 埃: Bụi bặm, chỉ cõi trần là cõi nhơn loại đang sinh sống.

Động đào: Chỉ Động Tiên ở. Do từ Đào nguyên 桃 源, hay Đào hoa nguyên 桃 花 源: Suối hoa đào.

Ông Đào Tiềm có viết bài “Đào Hoa Nguyên Ký 桃 花 源 記” kể lại một người đánh cá ở Võ Lăng đi thuyền lạc vào Động Đào nguyên. Trong đó, có một nhóm người mà tổ tiên của họ trốn loạn đời nhà Tần, sống nơi suối hoa Đào cách biệt hẳn với người đời đã từ lâu.

Sau khi ra khỏi Động Đào, người đánh cá có tìm cách chèo thuyền trở lại, nhưng không tìm được lối vào nữa

Do vậy, Đào nguyên hay Động đào thường được dùng để chỉ nơi Tiên ở, hay động Tiên.

C.5-6: Cõi thảm khổ nơi trần gian vừa qua rồi, Chơn hồn hãy quên hết những đau khổ bi ai mà hướng về nơi Tiên cảnh.

Khi giải thể rồi, Chơn hồn cởi bỏ được thân tứ đại, cái thân vật chất, tạm bợ và đầy phiền não, tức là thoát ra khỏi được những thảm khổ nơi cõi trần để trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống là cõi an vui và hạnh phúc. Đức Hộ Pháp thuyết về chữ khổ như sau: “Khổ thì nhiều, vui vốn ít, sống càng lâu khổ chất càng dày, khổ nội thân tứ khổ quả không sai, cầu bất tử là cầu đày thân cõi tội. Ta nghĩ đến đó mới hiểu rằng kiếp chết là kiếp giải khổ thì mới biết mặt cân công bình thiêng liêng nhắc không sai chạy”.

Câu 7-8:

Ngó chi khổ hải sóng xao,

Ðoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.

Ngó chi: Nhìn làm chi.

Khổ hải 苦 海: Biển khổ.

Đạo Phật cho cõi trần gian này là một biển khổ mênh mông, bát ngát, con người bị những cơn sóng khổ đau ấy nhồi dập, đang lặn hụp, chìm đắm hằng muôn ngàn kiếp luân hồi sinh tử. Đạo tựa như con thuyền chèo khắp mọi nơi trong biển khổ ấy mà cứu vớt chúng sanh để đưa qua bên kia bờ giác ngộ.

Sóng xao: Lượn sóng xao động.

Đoạn tình 斷 情: Cắt đứt các thứ tình cảm.

Tình cảm của con người từ nơi tâm mà phát khởi. khi tâm tiếp xúc với ngoại vật mà dao động gây cảm giác sinh ra thất tình.

Thất tình là bảy thứ tình cảm: Mừng, giận, buồn, sợ, thương, ghét, muốn, cũng là bảy thứ cảm giác từ trong tâm con người phát ra. Những thứ cảm giác này nếu vì thỏa mãn theo xác thịt đê hèn thì sẽ xa đường đạo đức mà gây nhiều phiền não, tội lỗi. Chúng ta phải cắt đứt những thứ dục tình thấp hèn này để chuyển hóa theo tinh thần cao thượng. Có như thế chúng ta mới thoát khỏi oan khiên, nghiệt chướng.

Yểm dục: Yểm là đè nén, dục là ham muốn. Con người có Lục Dục, tức là 6 thứ ham muốn, kể ra: Sắc dục (ham muốn sắc đẹp), Thinh dục (ham muốn âm thanh êm tai), Hương dục (ham muốn mùi thơm),Vị dục (ham muốn ăn ngon), Xúc dục (ham muốn da thịt mát mẻ), Ý dục (ham muốn được thỏa mãn ý nghĩ). Yểm dục là đè nén lòng ham muốn. Lòng ham muốn là của xác thịt nên có xu hướng về đường vật chất, xúi giục con người làm điều sái quấy để nó được thỏa mãn. Cho nên cần phải đè nén lòng dục, và cần chuyển hóa nó vào đường cao thượng.

Đặng vào cõi Thiên: Để được vào cõi Thiêng Liêng.

C.7-8: Nhìn làm gì những lượn sóng xao động nơi trần ai đau khổ. Hãy cắt đứt hết mọi tình cảm phàm tục, không lưu luyến những dục vọng thường tình nữa, cần dẹp trừ hết, buông xả các vướng chấp mới vào cõi Thiên được.

Khi thoát xác Chơn hồn đừng nên luyến tiếc mà nhìn lại làm gì cái cõi thế gian này đầy những cơn sóng đau thương dồi dập kiếp con người đắm chìm trong biển khổ.

Khổ đau do thất tình và lục dục là động cơ gây cho con người nhiều phiền não, chính nó sai khiến con người vào đường mê luyến tiền tài danh vọng, say đắm vợ đẹp con xinh, ham muốn nhà cao cửa rộng mà làm cho tinh thần hao tổn, khí phách tiêu mòn. Như vậy, để giải thoát con người ra khỏi tình cảm và dục vọng, trước hết ta phải đoạn lìa những tình cảm xấu xa đê tiện và đè nén lòng ham muốn thấp hèn để chuyển hóa theo đường cao thượng, đạo đức. Có như thế thì mới mong Chơn linh khi thoát xác bước vào đường Thiên cảnh được.

Câu 9-10:

Giọt lụy của Cửu Huyền dầu đổ,

Chớ đau lòng thuận nợ trầm luân.

Giọt lụy: Giọt nước mắt, chỉ sự đau khổ thương tiếc.

Cửu huyền 九 玄: Theo nghĩa thông thường thì Cửu Huyền là Tổ Tiên 9 đời trước mình, sanh ra dòng họ nhà mình. Thờ Cửu Huyền là ý nói mình thờ Tổ Tiên 9 đời trước mình (xem chi tiết: Cửu Huyền Thất Tổ, C.20 Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu)

Nhưng trong Câu Kinh này: Giọt lụy của Cửu Huyền dầu đổ, là ý nói những người thân yêu đang chảy nước mắt khóc than thương tiếc cho cái chết của người thân, như thế thì Cửu Huyền ở đây là chỉ những người thân thiết đang còn sống, đang còn hiện tiền, mới khóc than trước cái chết của người thân yêu.

Do đó, theo hướng này, chúng ta giải thích chữ Cửu Huyền là Cửu Tộc, bởi vì Bổn thị Cửu Tộc tức Hệ thống Cửu Huyền, Cửu Tộc và Cửu Huyền đều có cùng một nguyên lý.

Theo Tộc chế đời nhà Châu, Cửu Tộc là 9 hạng người có liên hệ thân thuộc với bản thân mình, kể ra như sau:

– Bốn hạng người thuộc tộc cha:

1. Những người trong ngũ phục thuộc họ cha.

2. Cô và con cô.

3. Chị em gái và con của chị em gái.

4. Con gái và con của con gái.

– Ba hạng người thuộc tộc của mẹ:

5. Cha của mẹ, tức là Ông ngoại.

6. Mẹ của mẹ, tức là Bà ngoại.

7. Chị em gái của mẹ và con của các vị ấy.

– Hai hạng người thuộc tộc của vợ:

8. Cha vợ

9. Mẹ vợ

Nếu không căn cứ theo Tộc chế của nhà Châu, mà căn cứ theo sự gần gũi thương yêu, Cửu Tộc là 9 hạng người gần gũi thân thiết nhứt của mình có thể được kể ra như sau:

  1. Cha ruột.
  2. Mẹ ruột.
  3. Cha vợ (hoặc Cha chồng).
  4. Mẹ vợ (hoặc Mẹ chồng).
  5. Vợ (hoặc chồng) của BẢN THÂN.
  6. Anh chị ruột.
  7. Em ruột trai hay gái.
  8. Con.
  9. Cháu.

Thuận: Bằng lòng theo. Trầm luân: Chìm đắm. Thuận nợ trầm luân: Bằng lòng đi theo sự kéo níu tình cảm của những người thân yêu để phải chìm đắm trong vòng luân hồi.

Muốn thoát khỏi luân hồi trong biển khổ thì phải làm sao?

Trong bài Thuyết Đạo ngày 14/2/ Mậu Thìn của Đức Hộ Pháp có giải thích như sau: “Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh. Cơ bí mật ấy, nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng. Ấy vậy, Đạo là cơ bí mật làm cho kể phàm có thể đoạt đặng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thầy đến qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi để cho chúng sanh hiểu cơ mầu nhiệm mà luyện Tinh, Khí, Thần”.

C.9-10: Dầu cho những người thân yêu đổ lệ khóc than thương tiếc cái chết của mình thì mình cũng không nên đau lòng mà bị lôi kéo trở lại cõi trần để phải chịu chìm đắm trong vòng luân hồi.

Hai câu này rất quan trọng, nhắc nhở những người còn sống đối với người đã khuất đừng nên khóc than kêu gào, khiến cho Chơn hồn không thăng Thiên được, cứ mãi lưu luyến tình trường thế tục, sẽ quanh quẩn luân hồi chẳng thoát tục được. Phải thận trọng cho lắm. Phải giữ tâm bình an, nên cầu chúc an bình và mỉm cười vì người ra đi đã thoát khổ rồi, nên mừng cho người ấy.

Câu 11-12:

Nắm cây huệ kiếm gươm thần,

Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

Huệ 慧: Hay tuệ là trí sáng suốt nhận biết được chân tướng của mọi sự vật, sự hiểu biết rốt ráo đúng sự vật.

Trí huệ là sự chứng ngộ chân lý của vạn hữu, là sự nhận thức sáng tỏ về thực tại sau khi mọi vô minh, phiền não đã được diệt trừ.

Huệ kiếm 慧 劍: Cây kiếm trí huệ.

Trí huệ được so sánh như một lưỡi kiếm (gươm) sắc bén có thể chiến thắng được thất tình lục dục, và có thể cắt đứt mọi phiền não trói buộc vào con người.

Gươm thần: Gươm Thiêng liêng huyền diệu, chỉ cây huệ kiếm.

Huệ kiếm gươm thần: Cây kiếm trí huệ, cây gươm mầu nhiệm. Ðây là cách nói so sánh cho dễ hiểu, bởi vì người chiến sĩ dùng gươm và kiếm để đánh thắng kẻ địch, còn người tu thì dùng cái trí huệ đạt được của mình làm như cây gươm cây kiếm để quyết thắng các tên giặc Lục dục Thất Tình và chặt đứt mọi phiền não, mọi sợi dây ràng buộc con người vào cõi trần, để trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Dứt tan: Làm cho mất hẳn. Sự thế: Việc đời. Nợ trần: Các món nợ oan nghiệt gây ra nơi cõi trần.

C.11-12: Cầm chặt cây kiếm trí huệ huyền diệu để dẹp hẳn việc đời và chặt đứt các món nợ oan nghiệt ràng buộc con người vào cõi trần thì mới có thể trở về cõi thiêng liêng.

Huệ kiếm là thanh gươm trí tuệ. Chơn hồn phải lấy trí tuệ của mình nhìn nhận những sự khổ nơi thế gian là cần đoạn tuyệt, từ đó mới dứt được thế sự thường tình của trần gian bể khổ, hồi hướng về miền an lạc.

Thật vậy, chúng sanh vì vô minh che lấp mất chân tánh, bị dục vọng, phiền não sai khiến, tạo ra muôn ngàn nghiệp ác, vì đó mà phải chơi vơi trong biển khổ luân hồi.

Để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, con người phải có một hùng lực để tự chiến thắng tâm mình và dùng cây huệ kiếm, cây gươm thần diệu dẹp tan giặc thất tình, lục dục, chặt đứt mọi thứ dây trói buộc con người, dứt trừ oan khiên phiền não. Nếu đạt được như thế, thì con người mới mong thoát khỏi mọi điều khổ não, mọi oan khiên nghiệt chướng, hầu có thể trở lại cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Nguồn gốc

Kinh Khai Cửu, Ðại Tường và Tiểu Tường do Ðức Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai (Quan Âm Bồ Tát) giáng cơ ban cho để đồng nhi tụng mở đầu trước khi tụng Kinh Tuần Cửu, Kinh Tiểu Tường hay Ðại Tường.

Đức Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai:

Đức Quan Âm Bồ Tát thường ngự ở tầng Phi Tưởng Diệu Thiên, biển Nam Hải nơi cõi thiêng liêng, có Phổ Đà Sơn, An Nhàn Động.

Vì Người là vị thường cứu độ trong Tam Giới nên Người cũng truyền bài kinh này để giác thế giải mê, sớm thức tỉnh mà thoát khổ.

Kinh tận độ

Kinh Tận Độ, còn gọi là Cửu Thiên Thập Nhị Kinh hay Kinh Cúng Tuần Cửu gồm 12 bản kinh, trì tụng cho chân hồn người có tu tập, có ăn chay tối thiểu 10 ngày mỗi tháng trở lên, khuyến khích ăn chay trường.

Những người không có ăn chay tối thiểu 10 ngày mỗi tháng thì không trì tụng bộ kinh này, vì có khả năng nguy hiểm cho chân hồn ấy nếu họ muốn vượt thoát khỏi Trung Giới ngấp nghé vào Thượng Giới. Vì chân hồn nhiều ô trược và dính sát khí, oán khí nhiều thì khi lên tới thượng tầng sẽ dễ hấp thu các điển quang sấm sét, chịu không nổi mà tiêu tán hồn phách.

Vào thời kỳ Đại Ân Xá của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, các chân hồn được đi thẳng lên Cửu Trùng Thiên về đến Bạch Ngọc Kinh, Cực Lạc Quốc một đường giải thoát dựa trên công nghiệp, tương công chiết tội chớ không phải luân chuyển đầu kiếp qua Tam Thiên Thế Giới, Tam Thập Lục Thiên mới về tới Bạch Ngọc Kinh, Cực Lạc Quốc.

Bộ kinh này gồm 12 bản kinh do chư vị giáng cơ ban kinh qua huyền diệu cơ bút là:

  1. Kinh Khai Cửu – Đức Quan Âm Bồ Tát giáng cơ
  2. Kinh Đệ Nhứt Cửu – Đức Nhất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  3. Kinh Đệ Nhị Cửu – Đức Nhị Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  4. Kinh Đệ Tam Cửu – Đức Tam Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  5. Kinh Đệ Tứ Cửu – Đức Tứ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  6. Kinh Đệ Ngũ Cửu – Đức Ngũ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  7. Kinh Đệ Lục Cửu – Đức Lục Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  8. Kinh Đệ Thất Cửu – Đức Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  9. Kinh Đệ Bát Cửu – Đức Bát Nương Diêu Trì Cung giáng cơ
  10. Kinh Đệ Cửu Cửu – Đức Cửu Nương Diêu Trì Cung và Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng cơ
  11. Kinh Tiểu Tường – Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng cơ
  12. Kinh Đại Tường – Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật giáng cơ

* Cách tính thời gian Tuần Cửu

Từ lúc người vừa mất, đếm lên 9 ngày thì làm Tuần Cửu đầu tiên, rồi cứ mỗi 9 ngày thì tụng tiếp Tuần Cửu thứ 2, cho đến 9×9 là 81 ngày thì hết 9 Tuần Cửu. Kế tiếp tính 200 ngày làm Lễ Tiểu Tường, rồi tính tiếp 300 ngày làm Lễ Đại Tường.

Tổng cộng 9 Tuần Cửu và 2 lần Lễ là 581 ngày.

* Cách trì tụng Kinh Tuần Cửu

Người trì tụng nên tắm gội sạch sẽ, ăn chay, cầu nguyện cho chân hồn người quá vãng sớm tịnh tâm, thức tỉnh siêu thăng. Ai không ăn chay thì tụng kinh không có hiệu quả cảm ứng điển thiêng.

Từ lúc gia đình có người thân quá vãng. Thân nhân trong nhà nên sắp xếp thời gian cùng nhau tụng kinh thường xuyên, chia ra mỗi ngày tụng vài lần vào các khung giờ 0 giờ, 6 giờ, 12 giờ, 18 giờ.

a. Với người không có ăn chay, tu tập

Vào các thời kinh thì tụng các bản kinh này đối với người thường không có tu tập, không ăn chay được tối thiểu 10 ngày mỗi tháng:

– Kinh Giải Oan 3 lần

– Kinh Cầu Siêu 3 lần

– Kinh Cứu Khổ 3 lần

– Kinh Di Lặc 3 lần.

b. Với người có ăn chay, tu tập

Vào các thời kinh thì tụng các bản kinh này đối với người có ăn chay từ 10 ngày mỗi tháng trở lên, có tu tập nhất định:

  • Kinh Giải Oan 3 lần
  • Kinh Cầu Siêu và Kinh Tụng Khi Đã Chết Rồi, tụng liên tục hai bài ấy 3 lần
  • Kinh Cứu Khổ 3 lần
  • Kinh Di Lặc 3 lần
  • Kinh Khai Cửu 1 lần, Kinh Tuần Cửu 3 lần.

Mỗi lần Tuần Cửu, Lễ gì thì tụng Kinh Tuần Cửu và Tiểu Tường, Đại Tường tương ứng. Trước khi tụng Kinh Tuần Cửu, Tiểu Tường và Đại Tường thì cần tụng Kinh Khai Cửu.

Việc trì tụng Kinh Tận Độ này, nếu có nhiều thời gian thì nên trì tụng liên tục mỗi ngày. Tức là Tuần Cửu 1 đầu tiên thì mỗi ngày đều tụng Kinh Khai Cửu và Kinh Đệ Nhất Cửu, sau tới Tuần Cửu thứ 2 thì tiếp tục tụng Kinh Khai Cửu và Kinh Đệ Nhị Cửu mỗi ngày…

Nếu có nhiều thời gian nữa thì nên tụng liên tiếp từ Tuần Cửu 1 cho đến về sau theo kiểu cộng dồn. Tức là Tuần Cửu 1 đầu tiên thì tụng Kinh Khai Cửu và Kinh Đệ Nhất Cửu. Tuần thứ 2 thì tụng thêm vô, tức là tụng Kinh Khai Cửu, Kinh Đệ Nhất Cửu và Kinh Đệ Nhị Cửu. Cứ vậy mà cộng dồn lên liên tục với các Tuần Cửu tiếp theo.

Kinh Khai Cửu thì tụng 1 lần 1 biến là được. Kinh Tuần Cửu, Tiểu Tường, Đại Tường thì đều tụng 3 biến mỗi lần tụng.

Lưu ý rất quan trọng với khái niệm chân hồn siêu thăng qua quá trình tụng Kinh Tận Độ:

Kinh Tận Độ là phương tiện, mang tính chất tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho chân hồn được tịnh hóa, định tâm định thần mình. Sau khi buông xả hết các nhân duyên nghiệp quả bất thiện, nghiệt chướng tà niệm ô trược nơi tâm thức thì chân hồn đó sẽ tinh tấn dần cho đến khi có thể nhập được vào cõi Thiên.

Quá trình tụng kinh này là khoảng thời gian ước định cho mỗi khóa tu tập tinh tấn, giống như khóa học ngắn hạn của chúng ta ở hiện thế vậy. Tham gia khóa học với thời gian ước định, rồi dự thi hết khóa, thi đạt thì được thăng tiến vào các khóa học cao hơn. Nếu hết khóa rồi mà thi chưa đạt thì chưa thăng tiến vào khóa học kế tiếp được, phải tiếp tục tham gia chung khóa học với nhóm bạn có khóa học tương đồng của mình. Học hoài, chiêm nghiệm hoài, quán chiếu quán xét hoài cho đến khi tri ngộ được, dự thi cuối khóa đạt được yêu cầu mới tinh tấn lên.

Có nhiều người lầm tưởng rằng cứ tới mỗi Tuần Cửu thì chân hồn sẽ tinh tấn lên một bậc, hết thảy 9 Tuần Cửu và Tiểu Tường, Đại Tường thì chân hồn về được Bạch Ngọc Kinh, nhập được vào Ngọc Hư Cung. Điều này không đúng. Chư vị ban cho phương pháp, trợ duyên để chúng sinh tu một kiếp đủ về bến bờ giải thoát. Nhưng giải thoát được hay không, lại nằm ở cá nhân mỗi người, sự cố gắng tinh tấn, tri ngộ, buông xả của từ bi hỷ xả được tới đâu.

Ở nơi Linh Giới, có những chân hồn có tu tập nhưng bị vướng mắc. Vướng mắc ấy khiến họ không tinh tấn tiến nhập vào các cảnh giới cao hơn được. Có người bị mắc kẹt ở một cảnh giới trong vài tháng, vài năm, vài chục năm, vài trăm năm hay lâu hơn nữa mà cũng không tri ngộ, không giải được vướng mắc chấp niệm thì cứ kẹt hoài.

Thế nên, việc trì tụng liên tục càng nhiều càng tốt sẽ trợ lực được nhiều hơn, nhắc nhở liên tục, kết duyên thiện lành liên tục cho chân hồn. So với việc tới Tuần Cửu thì tụng có một lần 3 biến thì việc trì tụng liên tục sẽ trợ duyên được nhiều hơn, nhưng sẽ mất nhiều thời gian của người sống ở hiện thế.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết