Kinh văn

(Giọng Nam xuân)

Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo,

Khối hình hài đã chịu rã tan.

Bảy dây oan nghiệt hết ràng,

Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

Kìa Thiên cảnh con đường vòi vọi,

Ánh Hồng Quân đương chói Ngọc Lầu.

Cung Thiềm gắng bước cho mau,

Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam Thiên.

Khá tỉnh thức tiền duyên nhớ lại,

Đoạn cho rồi oan trái buổi sanh.

Đem mình nương bóng Chí Linh,

Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,

Phách anh linh ắt phải anh linh.

Quản bao thập ác lục hình,

Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần1Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )

NHẤT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

Diễn nghĩa

Kinh Đệ Nhứt Cửu
Ảnh minh hoạ Kinh Đệ Nhứt Cửu

Câu 1-2: Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo, Khối hình hài đã chịu rã tan.

Một bông hoa nơi vườn Ngạn Uyển héo tàn thì tức là một người nơi cõi trần đã chết. Thân xác đã chết đi thì phải hư hoại và tan rã thành đất.

Câu 3-4: Bảy dây oan nghiệt hết ràng, Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

Nhờ vào bí Pháp Cắt Dây Oan Nghiệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Chơn thần không còn chịu ràng buộc với thể xác nữa và cũng được rửa sạch hết các nhơ bợn của cõi trần bám vào Chơn thần, giúp Chơn thần dứt hết các nỗi đau thương.

Câu 5-6: Kìa Thiên cảnh con đường vòi vọi, Ánh Hồng Quân đương chói Ngọc Lầu.

Kìa con đường đi lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống cao và xa không cùng tận. Ánh hào quang của Ðức Chí Tôn đang chiếu sáng rực rỡ Bạch Ngọc Kinh.

Câu 7-8: Cung Thiềm gắng bước cho mau, Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam Thiên.

Kia là Cung Trăng, Chơn thần cố gắng bước cho mau. Vượt qua ba Thần phẩm (Thiên Thần, Thiên Thánh, Thiên Tiên) là sẽ bước vào hàng Phật vị.

Câu 9-10: Khá tỉnh thức tiền duyên nhớ lại, Ðoạn cho rồi oan trái buổi sanh.

Nên thức tỉnh để nhớ lại những nhân duyên từ các kiếp trước của mình. Rồi cắt đứt những món nợ oan khiên do mình đã gây ra lúc sinh tiền nơi cõi thế gian.

Câu 11-12: Ðem mình nương bóng Chí Linh, Ðịnh tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

Đem mình nương theo ánh sáng Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn dìu dắt. An định tâm ý để từ bỏ phàm tâm hướng theo Thánh tâm cao thượng thì mới có thể gìn giữ ngôi vị nơi Thiêng Liêng được.

Câu 13-14: Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh, Phách anh linh ắt phải anh linh.

Chơn thần đã thoát xác, sau thời gian mê loạn, giờ được an định, tỉnh thức trở lại. Bản chất của Chơn thần là Thiêng Liêng sáng suốt, nhưng do xuôi theo sự sai khiến của thân xác (thông qua tư tưởng) nên rơi vào vô minh. Nay đã tỉnh thức thì phải sáng suốt trở lại.

Câu 15-16: Quản bao Thập ác Lục hình, Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt căn.

Chẳng ngại gì mười ác nghiệp của Thân, Khẩu, Ý và sáu hình thức (lục trần) làm mê đắm ở cõi trần tục. Vì giờ đây đã cởi thể xác rồi, hình hài đã tiêu mất rồi, tất nhiên cũng thoát khỏi cảnh khổ não nơi trần gian. Do đó, Chơn linh đoạt được ngôi xưa vị cũ nơi cõi Thiêng Liêng.

Giải nghĩa từ ngữ

Khoảng thời gian từ lúc vừa mất cho đến lúc làm Tuần Cửu đầu tiên này, Chơn hồn được chư vị Chánh Thần đưa đến Tòa Thánh Tây Ninh ở Trung Giới để tập trung ở đấy chờ các chuyến Thuyền Bát Nhã Từ Hàng đưa mình rời khỏi cõi Địa Hoàn, đến các cõi Thiên và về với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu nơi Đào Nguyên, Bạch Ngọc Kinh.

Người nào còn lưu luyến với thế tình tục sự, các mối nhân duyên ở cõi trần thì họ sẽ ở lại nhà mình, hoặc là ở gần nơi họ vướng chấp như là nơi họ mất hoặc có nhiều kỷ niệm đặc biệt, ở gần người, vật mà họ không muốn rời xa vì lo lắng cho người vật ấy khi không có họ thì không biết sẽ sống sao.

Đối với thân nhân người quá vãng, tuyệt đối không khóc lóc kêu gào thảm thiết, không tỏ ra quá buồn phiền về việc thân nhân của mình vừa mất. Dù buồn thương gì đi chăng nữa, cũng phải biết buông xả, hiểu rằng người ta chết là được giải thoát. Nhất là đối với người có tu tập thì việc chết càng nên mừng cho người ta vì thoát khỏi cảnh khổ thế tình tục sự.

Vậy nên mấy ngày tang lễ, thân nhân vừa quá vãng khó cầm lòng được thì thôi. Nhưng sau khi đã chôn cất hay hỏa thiêu rồi thì ráng an vui, nguyện cầu cho người quá vãng được an lạc siêu thăng, nói với họ rằng nên ra đi thong dong đừng lo cho người ở lại, mọi việc sẽ ổn.
Tuyệt đối không cúng đồ ăn thịt cá, chỉ nên cúng đồ chay hoặc chỉ là trái cây thì càng tốt.

Cũng không nên vì chuyện làm đám tang ở nhà cần thiết đãi cho người sống mà làm rùm beng phô trương, sát mạng chúng sinh để làm đám cho lớn, việc như vậy rất không nên vì ảnh hưởng tới sự bình yên của Chơn hồn người quá vãng. Chơn hồn người quá vãng sẽ bị ám ảnh bởi oán khí, tiếng kêu gào của chúng sinh bị sát mạng để thiết đãi trong đám tang, rất khó để bình yên tịnh hóa mà siêu thoát.

Ráng sống lương thiện, làm nhiều việc thiện duyên để lan tỏa năng lượng an lành đến người quá cố khiến họ sớm tịnh hóa mà tiêu diêu tự tại.

Câu 1-2:

Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo,

Khối hình hài đã chịu rã tan.

Ngạn Uyển 岸 苑: Vườn hoa của Đức Diêu Trì Kim Mẫu do Nhứt Nương Diêu Trì Cung trông coi. Trong vườn Ngạn Uyển có trồng đủ 12 sắc hoa khác nhau, tượng trưng 12 con Giáp (Thập Nhị Ðịa Chi). Tuổi của con người nằm trong 12 con Giáp này.

Sanh hoa đã héo: Mỗi sinh mạng của con người nơi thế gian đều được tượng hình bằng một cái hoa nở trong vườn. Một cánh hoa được sinh ra ở vườn Ngạn Uyển nay đã héo rủ, tức là có một người ở thế gian vừa mới chết. Bông hoa ấy sẽ lại nở ra khi người ấy tái kiếp xuống trần. Nếu người ấy làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.

Bà Nhứt Nương Diêu Trì Cung đã giải thích trong Bài giáng cơ ngày 12-10-1934 như sau: “…mỗi cái hoa là một Chơn hồn của cả kẻ nguyên nhân, thạnh suy, thăng đọa chi cũng do nơi khối sanh hoa khi ấy, định sanh mạng của mỗi người”.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống:

“Trước mắt chúng ta hiện tượng hào quang chiếu diệu một vườn hoa, đẹp đẽ đủ màu. Vườn hoa ở cảnh thiêng liêng ấy không phải như vườn hoa ở thế gian này đâu! Bông hoa thiêng liêng ấy sẽ sống một triệu lần do nơi huyền năng biến hóa của nó, và nó sẽ hiện tượng biến hóa trước mặt ta vô cùng vô tận vậy. Bởi vì nó thay đổi màu sắc rực rỡ vô biên, cho nên mỗi phen kiếp sanh tại thế này, đường tấn hóa trên con đường trí thức tinh thần, mỗi khi nhơn loại tiến triển lên thì vườn Ngạn Uyển nó sẽ đổi hình đổi tướng một cách đẹp đẽ vô ngần.”

Khối hình hài 形 骸 塊: Thể xác phàm bằng xương bằng thịt. Rã tan: Tan rã ra từng phần rồi tiêu dứt.

C.1-2: Một bông hoa nơi vườn Ngạn Uyển héo tàn thì tức là một người nơi cõi trần đã chết. Thân xác đã chết đi thì phải hư hoại và tan rã thành đất.

Theo Phật giáo, sự vật ở thế gian, tuy chúng ta trông thấy thật tướng, song nó chẳng thường tồn, mà vốn do nhơn duyên cấu sanh. Hễ nhơn duyên hiệp thì sanh, mà nhơn duyên tan thì mất.

Thân xác con người cũng vậy, do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) duyên hiệp lại mà thành; khi tứ đại tan thì con người chết, hình hài tiêu rã để trở về với đất.

Câu 3-4:

Bảy dây oan nghiệt hết ràng,

Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

Oan nghiệt 冤 孽: Oan trái và ác nghiệt.

Bảy Dây oan nghiệt: Khi con người sống nơi cõi trần, Chơn thần liên lạc với Thể xác qua 7 dòng điện từ (còn gọi là 7 dây oan nghiệt hay 7 sợi dây từ khí) mà mắt phàm không thấy được. Theo Đầu Sư Thượng Sáng Thanh trong quyển Bí Truyền Chơn Pháp, sự sống của con người do nơi khí Sanh quang nuôi nấng, khí sanh quang nơi mình chúng ta tụ tại 7 khiếu làm nên điển lực, gọi là Thất khiếu sanh quang, phàm gọi là bảy dây oan nghiệt.

Nhờ 7 dòng điện từ này mà Chơn thần ra lịnh cho Thể xác phải làm đúng theo lời dạy bảo của Chơn linh, nhưng cũng qua 7 dòng điện từ này mà Xác phàm đòi hỏi Chơn thần phải làm cho nó thỏa mãn. Nếu Chơn linh yếu đuối không ngăn cản nổi thì Chơn thần làm theo sự đòi hỏi của Thể xác, nên mới gây ra nhiều mối oan nghiệt trong kiếp sống. Do đó mới gọi 7 dòng điện từ này là 7 dây oan nghiệt.

Bảy dây oan nghiệt ở vào 7 nơi trong cơ thể:

  1. Trên đầu(mỏ ác)
  2. Ngay trán
  3. Ngay cổ
  4. Ngay tim
  5. Ngay hông trái
  6. Ngay dạ dưới
  7. Dưới xương khu

Khi chết rồi thì Chơn thần phải chịu một phen khổ sở, đau đớn, vì bảy dây oan nghiệt này vẫn còn ràng buộc thể xác và Chơn thần, chưa thể bứt rời ra được. 

Chính vì lòng Đại từ bi, Chí Tôn mới ân xá, ban cho Đạo Cao Đài bí tích Cắt Dây Oan Nghiệt, tức là dùng diệu pháp cắt bảy cái mối năng lực đặng cho Chơn thần xa lìa xác tục rồi đưa Chơn thần vào cõi Hư linh.

Bợn trần: Những thứ dơ bẩn nơi cõi trần, làm thân tâm con người bị uế trược.

Trần gian tánh vốn không trược (dơ bẩn), vì bị ngũ trược ô nhiễm, trở nên ô uế, không khiết tịnh. Tỉ như nước, tánh vốn sạch, trong trẻo, bị ô nhiễm đất, bùn vào sẽ trở thành đục, bẩn thỉu, nhưng khi lóng, gạn hết bụi đất, tánh trong của nước hiện ra.

Nước ví như chân tánh, đất bụi ví như phiền não. Bản tánh con người luôn trong sạch, do vọng niệm, tham dục, mê mờ che lấp, khiến tánh thuần nhiên thanh tĩnh không hiển hiện được, nên cứ chìm sâu vào luân hồi sanh tử.

Nếu muốn trở lại chân tánh thì phải giống như lóng nước đục: Gạn sạch hết bụi đất đi rồi thì chỉ còn nước trong, sạch. Ở đây, chúng ta gạn hết những phiền não ra khỏi bản tâm thì lúc ấy ta đã đoạn trừ được vô minh, mầm của luân hồi sanh tử.

Rửa sạch muôn ngàn đau thương: Làm sạch hết những nỗi đau thương đã ô nhiễm vào Chơn thần.

C.3-4: Nhờ vào bí Pháp Cắt Dây Oan Nghiệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Chơn thần không còn chịu ràng buộc với thể xác nữa và cũng được rửa sạch hết các nhơ bợn của cõi trần bám vào Chơn thần, giúp Chơn thần dứt hết các nỗi đau thương.

Câu 5-6:

Kìa Thiên cảnh con đường vòi vọi,

Ánh Hồng Quân đương chói Ngọc Lầu.

Thiên cảnh 天 境: Cõi Trời, cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Vòi vọi: Ở cao quá tầm nhìn của mắt như là không thấy đâu là tận cùng. Con đường vọi vọi: Con đường cao và xa vô cùng tận.

Hồng Quân 洪 鈞: Hồng là to lớn, Quân là cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Hồng Quân là cái bàn xoay to lớn dùng để nặn ra các thứ đồ vật. Nghĩa bóng chỉ Đấng Tạo Hóa, hay Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đương chói: Đang chiếu sáng. Ngọc Lầu: Tòa lầu đài bằng ngọc, ý nói Bạch Ngọc Kinh, nơi thường ngự của Ðức Chí Tôn.

C.5-6: Kìa con đường đi lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống cao và xa không cùng tận. Ánh hào quang của Ðức Chí Tôn chiếu sáng rực rỡ Bạch Ngọc Kinh.

Chú ý: Những điều này là Chơn hồn đang được chư vị Chánh Thần nhắc nhở cho biết, cho thấy. Như đã nói bên trên, lúc này Chơn hồn được đưa về Tòa Thánh Tây Ninh, đây là Thánh Địa được xây dựng theo hình tượng Bạch Ngọc Kinh, Ngọc Hư Cung đặt tại thế gian. Nhìn thấy những sự biến hiện vi diệu, ánh thiên lương nơi Thiên Nhãn ở Quả Càn Khôn phát xuất ra lan tỏa ấm áp, Chơn hồn sẽ được gọi nhớ, khơi dậy khát khao được trở về cùng cội nguồn của mình.

Bạch Ngọc Kinh được Đức Hộ Pháp thuyết Đạo trong Thiêng Liêng Hằng Sống như sau: “Lại gần tới, còn thấy một vật khác thường quái lạ, nhưng nó là một tòa Thiên Các đẹp đẽ lắm, màu sắc thay đổi sáng rỡ, mà cả thoại khí bao quanh, làm như thể vận chuyển hình trạng của nó vậy”.

Câu 7-8:

Cung Thiềm gắng bước cho mau,

Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam Thiên.

Cung Thiềm 蟾 宮: Cung trăng. Thiềm là con thiềm thừ, tục gọi là con cóc. Tương truyền trên Cung Trăng có một con thiềm thừ to lớn đẹp đẽ, đã sống được 8000 tuổi, dưới họng có chữ son. Do đó, Cung Thiềm là chỉ Cung Trăng hay Mặt trăng. Nơi đây là Bạch Vân Ðộng của chư Thánh, mà vị đứng đầu là Thanh Sơn Ðạo Sĩ, tức là Trạng Trình Nguyễn bỉnh Khiêm.

Thần phẩm 神 品: Phẩm vị Thiêng Liêng.

Ba Thần phẩm: Ba phẩm cấp Thiêng Liêng (còn gọi thừa phẩm), đó là Thần, Thánh, Tiên.

Ba Thần phẩm này mỗi phẩm lại chia làm ba phẩm cấp tạo thành 9 phẩm cấp gọi là Cửu phẩm Thần Thiên gồm: Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh, Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên (地 神, 人 神, 天 神, 地 聖, 人 聖, 天 聖, 地 仙, 人 仙, 天 仙 ).

Tam Thiên 三 天: Ba ngôi Thiên. Đó là Thiên Thần 天 神, Thiên Thánh 天 聖, Thiên Tiên 天 仙.

Đứng đầu Tam Thiên: Đứng trên ba ngôi Thiên, là Thiên Thần, Thiên Thánh, Thiên Tiên, tức bước vào hàng Phật vị.

C.7-8: Kia là Cung Trăng, Chơn thần cố gắng bước cho mau. Vượt qua ba Thần phẩm (Thiên Thần, Thiên Thánh, Thiên Tiên) là sẽ bước vào hàng Phật vị.

Câu kinh này ý muốn kêu gọi, thúc dục Chơn hồn mau mau tu dưỡng học hỏi để tịnh hóa tâm trí, buông xả các thế sự thường tình vướng chấp tư niệm, hồi hướng về cõi lành. Sau một thời gian thì có thể tinh tấn trở về với phẩm vị.

Bản thân con người là nửa người nửa Phật. Khi thoát xác rồi nếu đầy đủ công đức thì hoàn nguyên Phật vị. Trong bài Kinh Khai Cửu có câu “Đã quá chín tầng Trời đến vị”, tức là Chơn linh đi qua được Cửu Trùng Thiên thì đến ngôi vị Phật. Ở đây, lời Kinh nhắc nhở Chơn linh hãy mau cố gắng bước vào Cung Thiềm, phải vượt qua ba Thần phẩm thì sẽ đắc hàng Phật vị.

Câu 9-10:

Khá tỉnh thức tiền duyên nhớ lại,

Ðoạn cho rồi oan trái buổi sanh.

Khá: Nên, phải nên. Tỉnh thức: Thức tỉnh, tỉnh ra mà biết rõ, không còn mê lầm nữa. Tiền duyên 前 緣: Duyên trước, tức là mối dây ràng buộc được định sẵn từ kiếp trước.

Ðoạn 斷: Cắt đứt. Oan trái 冤 債: Oan là thù giận, trái là món nợ. Oan trái là món nợ về thù giận, tức là món nợ oan khiên.

Buổi sanh: Lúc còn sống nơi cõi trần.

C.9-10: Nên thức tỉnh để nhớ lại những nhân duyên từ các kiếp trước của mình. Rồi cắt đứt những món nợ oan khiên do mình đã gây ra lúc sinh tiền nơi cõi thế gian.

Đối với bậc Nguyên Nhân hoặc chủng tử linh căn của chư vị thì việc nhớ lại tiền duyên này sẽ khiến Chơn hồn nhớ được những ký ức thiện lành thánh thiện nơi Thiên Giới, căn kiếp tốt đẹp nhất mà mình đã từng như thế.

Câu 11-12:

Ðem mình nương bóng Chí Linh,

Ðịnh tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

Nương: Dựa vào, nhờ cậy vào. Bóng: Ánh sáng.

Chí Linh 至 靈: Chỉ Đức Chí Tôn.

Ðịnh tâm 定 心: Tập trung tâm vào một nơi, không để cho tâm bị tán loạn (suy nghĩ lan man).

Tâm là sự suy nghĩ, sự hiểu biết là nơi lưu giữ ký ức của ta từ sơ khai đến hiện tại. Cái tâm này chính là Chơn thần (dựa theo cách gọi dân gian và Phật Giáo). Còn cái tâm trong thánh ngôn là Chơn linh nên sẽ có nghĩa khác. 

Phép tu Thiền: Giới, Ðịnh, Tuệ, là để định cái Tâm cho đến khi đạt được trí huệ.

Người ta thường ví “Tâm viên ý mã” 心 猿 意 馬, tức là chỉ tâm ý cũng như con vượn và ngựa, lúc nào cũng chạy nhảy lăng xăng, không an định.

Con người thường bị hoàn cảnh và tư tưởng (Ý) sai khiến nên tâm không yên ổn, lúc nào cũng phải suy nghĩ chuyện này chuyện kia nên thường sống trong lãng quên, thất niệm. Định tâm là tập trung suy nghĩ vào một chỗ (đối tượng hoặc cảnh vật – thông thường là hơi thở vào/ra) để quan sát và cảm nhận. Tâm ta sẽ khổ đau khi thường xuyên nghĩ về những chuyện không vui trong quá khứ hay tâm ta sẽ phiền não khi suy nghĩ và lo lắng chuyện tương lai. Tâm có định thì mới giúp cho con người sáng suốt, sống tỉnh thức, không còn đeo đuổi vọng niệm.

Chí Thánh 至 聖: Bỏ phàm tâm để trở về với Thánh tâm cao thượng. Mới gìn ngôi xưa: Mới có thể giữ gìn ngôi xưa vị cũ nơi cõi Thiêng Liêng được.

C.11-12: Đem mình nương theo ánh sáng Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn dìu dắt. An định tâm ý để từ bỏ phàm tâm hướng theo Thánh tâm cao thượng thì mới có thể gìn giữ ngôi vị nơi Thiêng Liêng được.

Người có duyên phần mới được gặp gỡ Đức Chí Tôn giáng cơ mở một mối Đạo, như lời Thánh giáo dạy: “Đạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Đạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào đường Cực Lạc, thoát đọa Tam Đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt lại ăn năn vô ích”.

Gặp đặng thời Đức Thượng Đế vì thương xót sanh linh, Đại khai ân xá kỳ ba để mở cơ tận độ, chúng sanh cần phải biết nhận thức điều đó mà nên đem mình nương theo ánh sáng của Đức Chí Tôn đã soi rọi, hầu thoát khỏi khổ luân hồi mà trở về quê xưa cảnh cũ. Thực vậy, bài Khai Kinh Kệ trong Di Lặc Chơn Kinh có câu: Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, tức là trăm ngàn muôn kiếp mà không duyên cũng khó mong gặp đặng Phật.

Trong đàn cơ lúc 21 giờ đêm 12-1-Quí Dậu, một Chơn linh xưng là Thanh Tâm Tài Nữ cho Đức Hộ Pháp biết là Bà đi tái kiếp ở Hồng mao (nước Anh). Bà than rằng không duyên may mắn để gặp được Đức Chí Tôn. Bà nói rằng: “Em nghe Chí Tôn nơi này, chạy theo nơi nầy không gặp. Em nghe nói nơi khác, chạy nơi khác, cũng không gặp.

Hỏi ra thì em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Thưa mấy chị,

Đã may duyên gần gũi hình bóng của Người, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ. Xin mấy chị nghe:

THI

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.

Nghe danh như chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

Xin kiếu” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Câu 13-14:

Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,

Phách anh linh ắt phải anh linh.

Hồn: ý nói Chơn thần. Ðịnh tỉnh: Ðịnh là sắp đặt yên ổn, tỉnh là không mê, hiểu rõ mọi việc. Ðịnh tỉnh là làm cho tinh thần được yên ổn mà nhận biết rõ mọi việc.

Phách: ý nói Chơn thần.

Chơn thần là một khí thể, bao bọc chung quanh xác thân con người. Nhờ Chơn thần mà xác thân con người được sống và không bị tan rã.

Anh linh 英 靈: Thiêng liêng sáng suốt.

C.13-14: Chơn thần đã thoát xác, sau thời gian mê loạn, giờ được an định, tỉnh thức trở lại. Bản chất của Chơn thần là Thiêng Liêng sáng suốt, nhưng do xuôi theo sự sai khiến của thân xác (thông qua tư tưởng) nên rơi vào vô minh. Nay đã tỉnh thức thì phải sáng suốt trở lại.

Câu này ý nói, khi Chơn hồn đã tịnh tâm, thức tỉnh rồi thì hồn phách tự nhiên sẽ sáng suốt, cảm thấy được sự hiện diện của Chơn linh và được Chơn linh chỉ bảo cặn kẽ nên ngộ được Đạo, thông tuệ vạn sự. Chơn linh ấy là phần trọn lành của Đạo bên trong mỗi Chơn hồn hay còn gọi là Phật Tánh, là Thiên Tánh.

Câu 15-16:

Quản bao Thập ác Lục hình,

Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt căn.

Quản bao: Chẳng ngại, có sá chi, coi không đáng kể.

Thập ác 十 惡: Mười điều ác do Thân, Khẩu, Ý của con người gây ra. Thân thì tạo ra 3 điều ác: Sát sanh, Du đạo, Tà dâm. Khẩu thì tạo ra 4 điều ác: Nói dối, Nói ác, Nói chia rẽ, Nói phù phiếm. Ý thì tạo ra 3 điều ác: Tham lam, Sân giận, Si mê. Khi còn sống nơi cõi trần thì Thân, Khẩu, Ý còn gây ra được 10 điều ác. Nay Thể xác đã chết rồi thì không thể gây ra Thập ác, nên chẳng còn e ngại nữa.

Lục hình 六 形: Sáu hình thức phô bày ra nơi cõi trần, Phật giáo gọi là Lục cảnh hay Lục trần, gồm: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Trong thể xác con người có Lục căn: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý, tức là: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Da thịt,

Lục cảnh phô bày trước Lục căn, hấp dẫn Lục căn, làm cho Lục căn ham muốn, sanh ra Lục dục: Sắc dục, Thinh dục, Hương dục, Vị dục, Xúc dục, Ý dục. Chính Lục dục này xúi giục và xô đẩy con người vào vòng vật chất, xa đường đạo đức, tạo ra cho con người biết bao mối oan nghiệt nơi cõi trần .

Khi thân thể con người chết đi thì Lục căn tiêu mất, cho nên dù Lục cảnh (Lục trần hay Lục hình) có cám dỗ thế mấy đi nữa thì cũng chẳng làm gì được.

Giải thi 解 尸: Giải là cởi bỏ, Thi là thi hài thể xác. Giải thi là cởi bỏ thể xác, tức là thể xác chết vì Chơn thần và Linh hồn đã lìa bỏ thể xác. Thoát khổ 脫 苦: Thoát khỏi cảnh khổ não.

Diệt hình 滅 形: Diệt là làm cho mất đi, tiêu diệt; Hình là hình thể sắc tướng. Diệt hình là là tiêu diệt hình thể sắc tướng, mà khi sắc tướng không còn nữa thì chỉ còn cái Vô vi, Vô hình.

Sắc tướng là cái hữu hình, mà hữu hình là hữu hoại. Như vậy sắc tướng, hình thể thì bị hư hoại, có thể diệt được. Trái lại với sắc tướng là vô tướng, vô sắc hay vô hình là thể thường tồn, bất diệt. Thân xác là sắc tướng nên dễ bị diệt, linh hồn là thể vô tướng nên thường còn, sống mãi.

Ðoạt căn 奪 根: Ðoạt được cái nguồn gốc của mình, tức là đắc đạo, trở về ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

C.15-16: Chẳng ngại gì mười ác nghiệp của Thân, Khẩu, Ý và sáu hình thức (lục trần) làm mê đắm ở cõi trần tục. Vì giờ đây đã cởi thể xác rồi, hình hài đã tiêu mất rồi, tất nhiên cũng thoát khỏi cảnh khổ não nơi trần gian. Do đó, Chơn linh đoạt được ngôi xưa vị cũ nơi cõi Thiêng Liêng.

KHẢO DỊ:

Kinh TÐ-TÐ năm 1936, Kinh Lễ năm 1952:

đoạt căn.

Kinh TÐ-TÐ năm 1968, 1974, 1975:

đoạn căn.

Ðoạn căn: là phép cắt đứt 7 Dây oan nghiệt để cho Chơn thần thoát khỏi thể xác, trở về cõi thiêng liêng.

Nguồn gốc

Kinh Đệ Nhứt Cửu là một bài Kinh do Nhất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. 

Nhất Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ nhứt trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Nhất Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên trái Đức Phật Mẫu, tay ôm đàn Tỳ bà. Ngài còn được biết đến với danh hiệu Ngạn Uyển Chưởng Hồn, Huỳnh Hoa Tiên Nữ.

Nhiệm vụ của Nhất Nương là cai quản vườn Ngạn Uyển nơi Diêu Trì Cung. Trong nhiều thần tịch cổ sử ghi chép thì người ta hiểu Ngài như là Bách Hoa Tiên Tử, coi sóc vườn hoa nơi Thượng Giới, vị Tiên Tử đứng đầu cai quản các Tiên Hoa, mỗi một loài hoa đều có một vị chưởng quản là Tiên Hoa của loài ấy. Như vậy đủ thấy quyền năng của Ngài vĩ đại là bao, nhưng chúng sinh lại không hiểu rõ công việc cụ thể của các Tiên Hoa, nên thường viết là chuyên lo việc chưng hoa cho Thiên Đình, Tam Giới.

Công việc của Ngài là chăm sóc các Sinh Hoa nơi vườn Ngạn Uyển tượng trưng cho sự tiến hóa Chơn hồn của vạn linh trong Tam Giới. Nếu thấy bông hoa nào ủ rũ là người, vật ấy đang bị buồn phiền, bệnh tật, khi được chăm sóc tươi tắn lại thì tự nhiên khỏe mạnh. Cho nên người hành Y Đạo nếu có giúp người cứu vật mà xin điển của vị Nhất Nương thì khả năng giúp đỡ bệnh nhân mau khỏe sẽ tăng cao.

Đức Nhất Nương từng có một kiếp giáng trần là Hoàng Thiều Hoa ở Việt Nam. Cũng có tích ghi lại về chuyện Huỳnh Hoa Tiên Tử thời Tùy – Đường ở Trung Hoa.

Một bài thơ mà Ngài đã từng giáng cơ để lại:

Hoa thu ủ như màu thẹn nguyệt

Giữa thu ba e tuyết đông về

Non sông trải cánh tiên loè

Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.

 

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết