Kinh văn

(Giọng Nam Xuân)

Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,

Cõi Xích Thiên vội mở ải quan.

Thiên Quân diêu động linh phan,

Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

Lần vào cung Ngọc diệt hình,

Khai kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

Đắc văn sách thông Thiên định Địa,

Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần1Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )

NGŨ NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

Diễn nghĩa

Kinh Đệ Ngũ Cửu
Ảnh minh hoạ Kinh Đệ Ngũ Cửu

Câu 1-2: Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ, Cõi Xích Thiên vội mở ải quan.

Nơi cõi Xích Thiên bầu trời ửng hồng lên mây vô cùng rực rỡ. Cửa ải đi vào từng Trời Xích Thiên vội vàng mở ra để tiếp rước Chơn hồn.

Câu 3-4: Thiên Quân diêu động linh phan, Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

Có hai vị Thiên Quân cầm Phướn Thần để Chơn hồn nhìn thấy ánh sáng từ cây phướn đó mà hướng về cõi này. Chư Thiên nơi ấy vui vẻ đón rước Chơn hồn từ Huỳnh Thiên đến đây.

Câu 5-6: Ðài Chiếu Giám Cảnh Minh nhẹ bước, Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

Chơn hồn nhẹ nhàng bước lên Ðài Chiếu Giám (còn gọi là Minh Cảnh Ðài) để xem lại một cách tướng tận có bao nhiêu tội và phước mà Chơn hồn đã gây ra trong suốt kiếp sống nơi cõi trần.

Câu 7-8: Lần vào Cung Ngọc Diệt Hình, Khai Kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

Chơn hồn đi lần vào trong đến Cung Ngọc Diệt Hình, mở quyển Vô Tự Kinh thì chữ mới hiện ra để Chơn hồn xem tận căn duyên nghiệp quả của mình.

Câu 9-10: Ðắc văn sách thông Thiên định Ðịa, Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân.

Sau khi quán xét căn duyên nghiệp quả, Chơn hồn lĩnh ngộ được các kinh văn từ sách Trường Xuân, thông suốt mọi lẽ huyền vi Thiên Địa. Khởi tâm từ hòa phụng sự chúng sinh thì có thể hóa hình thành một vị Chánh Thần có huyền phép độ thế.

Câu 11-12: Kỵ Kim quang kiến Lão Quân, Dựa xe Như Ý, Oai Thần tiễn thăng.

Sau khi lĩnh ngộ được các huyền vi Trời Đất, Chơn hồn cưỡi trên Như Ý Kim Quang Kiệu trở về bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân, trình tấu Ngài về những hành tàng, sự chứng ngộ của mình, lựa chọn con đường của mình ra sao. Sau đó, nhờ oai thần huyền diệu của cỗ xe Như Ý của Đức Lão Quân đưa tiễn cao thăng hơn nữa, đến tầng Kim Thiên.

Giải thích từ ngữ

Kinh Đệ Ngũ Cửu do Đức Ngũ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban kinh, được trì tụng ở Tuần Cửu thứ 5. Từ lúc làm Lễ Tuần Cửu thứ 4, tính thêm 9 ngày thì làm Tuần Cửu thứ 5. Trong thời gian này, gia đình có người vừa mất nên dành nhiều thời gian tụng kinh cho thân nhân quá vãng. Việc trì tụng kinh sẽ giúp Chơn hồn người mất sớm được tịnh hóa, buông xả những điều bất thiện, tinh tấn giải thoát.

Bản Kinh Đệ Ngũ Cửu này nói về các việc ở tầng Xích Thiên, có nhắc về Cung Ngọc Diệt Hình, do việc xem duyên nghiệp ở Minh Cảnh Đài kết thúc thì Chơn hồn sẽ được cho biết rằng có chư vị dẫn về Cung Diệt Hình này để định phận quả duyên của mình. Chớ nơi tầng Xích Thiên, ở giai đoạn này chưa về tới Cung Ngọc Diệt Hình.

Nếu Chơn hồn ngay tại Minh Cảnh Đài này, có sự quyết định chuyển sinh thì các vị Chánh Thần sẽ giúp đưa đến Diệt Hình Cung. Nếu quyết định tu dưỡng tiếp tục, tinh tấn trên con đường về Cội Đạo thì sẽ đi đến các cảnh giới khác tiếp tục học hỏi rồi sau này mới về Cung Diệt Hình.

Bài kinh này và bài Kinh Đệ Tam Cửu có nhắc đến Đức Lão Quân ngự ở Cung Như Ý, cõi Thanh Thiên. Khi Chơn hồn đến cõi Thanh Thiên sẽ được Hội Thánh Minh giao truyền sách Trường Xuân. Chơn hồn tu học với bản kinh ấy và đi đến các cảnh giới khác nhau để được tri ngộ nghĩa lý thâm sâu sách ấy đề cập. Sau khi chứng ngộ rồi, hiểu được phận mình, thệ nguyện của mình và quyết định hành tàng của mình ra sao thì quay trở lại Cung Như Ý bái kiến Đức Lão Quân, từ biệt Ngài để lên đường đến các cảnh giới khác nữa.

Câu 1-2:

Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ.

Cõi Xích Thiên vội mở ải quan.

Ánh hồng: Ánh sáng màu hồng. Chiếu: Rọi sáng. Ðường mây: Ðường đi trên mây. Rỡ rỡ: Sáng ngời, rực rỡ.

Xích: Màu hồng. Xích Thiên: Từng Trời có ánh sáng màu hồng. Ðó là từng Trời thứ 5 trong Cửu Trùng Thiên. Ải quan: Cửa ải, cửa ngõ ra vào đặt tại biên giới của một nước.

C.1-2: Nơi cõi Xích Thiên bầu trời ửng hồng lên mây vô cùng rực rỡ. Cửa ải đi vào từng Trời Xích Thiên vội vàng mở ra để tiếp rước Chơn hồn.

Câu 3-4:

Thiên Quân diêu động linh phan.

Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

Thiên Quân 天 軍: Vị tướng Trời (Thiên binh, Thiên tướng). Diêu động 搖 動: Dao động, chuyển động đưa qua đưa lại một cách đều đặn. Linh phan 靈 幡: Cây Phướn linh. Phan là cây Phướn. Linh là thiêng liêng.

Thánh vức 聖 域: Vức tức là Vực, là một vùng đất. Thánh vức là vùng đất Thánh. Thánh vức đồng nghĩa với Thánh địa.

Nhộn nhàng: Nhộn nhịp, rộn rịp, đông đảo nhiều người vui vẻ lăng xăng công việc. Tiếp nghinh 接 迎: Ðón rước tiếp đãi.

C.3-4: Có hai vị Thiên Quân cầm Phướn Thần để Chơn hồn nhìn thấy ánh sáng từ cây phướn đó mà hướng về cõi này. Chư Thiên nơi ấy vui vẻ đón rước Chơn hồn từ Huỳnh Thiên đến đây.

Tả Phan Quân thì cầm phướn trên ấy có hai chữ Thượng Sanh đứng tiếp đón các Chơn hồn Hạ Thừa là các phẩm Thần Hồn.

Hữu Phan Quân thì cầm phướn trên ấy có hai chữ Thượng Phẩm đứng tiếp đón các Chơn hồn Thượng Thừa là các phẩm Thánh Hồn, Tiên Hồn.

Vì mức độ tinh tấn, con đường của hai bậc Hạ Thừa và Thượng Thừa có nhiều khác biệt, khi được đưa về Thượng Giới thì có hai đường đi đối với hai nhóm Chơn hồn.

Bậc Hạ Thừa sẽ được dẫn đến các nơi đạo tràng để tịnh hóa, tu dưỡng, cần nhiều thời gian để tinh tấn hơn so với bậc Thượng Thừa. Sau một thời gian tịnh hóa, học hỏi được nhiều điều, trải qua các khảo nghiệm và đạt được tri ngộ nhất định thì Chơn hồn sẽ được đưa đi tiếp con đường thăng Thiên của mình.

Câu 5-6:

Ðài Chiếu Giám Cảnh Minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

Ðài: Nơi xây cao lên. Chiếu: Soi rọi. Giám: Tấm kiếng, gương soi. Ðài Chiếu Giám: Hay Chiếu Giám Đài 照 鑑 臺: Cái đài có đặt một tấm gương để soi rọi tội phước. Tấm gương đó gọi là Minh Cảnh 明 鏡 nghĩa là gương sáng, dùng để soi rọi các Chơn hồn khi thác xuống thấy được những hành vi thiện ác trong kiếp sống nơi cõi thế gian. Đài này còn gọi là Minh Cảnh Đài 明 鏡 臺.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nói về Minh Cảnh Ðài như sau: “Ðài ấy là Tòa Tam Giáo, chúng ta không thấy cái trạng thái hình thể nó ra sao. Khi chúng ta đến, hào quang chiếu diệu xông lên như ngọn lửa vậy. Lửa ấy chẳng phải lửa thật, nó là hào quang, cho ta thấy trước rồi biến mất đi, kế thấy một cây Cân Công Bình hiện ra trước mắt chúng ta, rồi cũng từ từ biến mất. Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán giả đứng trước đài kia coi cả kiếp sanh của chúng ta, không điều gì sót, phải chăng nơi ấy Kinh Phật gọi là Minh Cảnh Ðài? Trước mặt chúng ta, khi trước chúng ta làm những việc gì, nay nó chiếu lại cho xem, chẳng khác gì như mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt, và Cân ấy tùy theo nên hư tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công bình, không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền bí của Tòa Thiêng Liêng ấy? Vậy hành tàng đã có trước mặt, Luật Tam giáo chẳng hề sai chạy. Kiếp sanh đã làm gì, Ðời hay Ðạo, mặt thiêng liêng không sót một điều.”

Xem rõ ràng tội phước: Những phước đức và tội lỗi của một con người tạo ra ở nơi thế gian sẽ được lập lại khi Chơn hồn đứng soi trước Minh cảnh đài một cách rõ ràng, y hệt như cuốn phim quay lại các sự việc.

Căn sinh 根 生: Căn là gốc rễ, sinh là sống. Căn sinh là chỉ tất cả lời nói, việc làm trong suốt một kiếp sống nơi cõi trần.

C.5-6: Chơn hồn nhẹ nhàng bước lên Ðài Chiếu Giám (còn gọi là Minh Cảnh Ðài) để xem lại một cách tướng tận có bao nhiêu tội và phước mà Chơn hồn đã gây ra trong suốt kiếp sống nơi cõi trần.

Ở giai đoạn khoảng một tháng từ lúc Chơn hồn vừa thoát xác này, cõi Thiên và cõi U Minh có sự vận hành gần giống nhau khi Chơn hồn phải đến Minh Cảnh Đài để quán chiếu nhân duyên nghiệp quả của mình. Có chăng sự khác biệt là nơi cõi Thiên thì ít có các Chơn hồn tụ tập ở đó để đòi nợ, chờ báo oán. Còn cõi âm thì các oan hồn, oan gia trái chủ tụ tập ở đó rất đông để chờ đòi nợ với Chơn hồn từng gieo nghiệp dữ với họ. Thế nên Minh Cảnh Đài ở U Minh Giới được gọi là Nghiệt Cảnh Đài.

Câu 7-8:

Lần vào Cung Ngọc Diệt Hình,

Khai Kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

Lần vào: Ði lần vào trong. Cung Ngọc Diệt Hình: Một Cung diệt bỏ hết hình tướng nơi từng Trời Xích Thiên. Trong đó có Kinh Vô Tự.

Khai: Mở ra. Kinh Vô Tự 無 字 經: Quyển Kinh không chữ. Ðây là một quyển Kinh rất huyền diệu nơi cõi thiêng liêng, bởi vì khi Chơn hồn đến đứng trước quyển Kinh ấy, lật ra xem thì chữ bắt đầu hiện ra trên các trang giấy trắng, thấy rõ tên tuổi và tất cả việc làm trong kiếp sanh của Chơn hồn nơi cõi trần.

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, nói về Vô Tự Kinh như sau:

“Nếu khi vô được rồi, thân nhân chúng ta dắt chúng ta đến một Cung có một quyển sách Thiên Thơ gọi là Vô Tự Kinh, để trước mặt chúng ta, dở ra xem, thấy tên mình và kiếp sanh của mình đã làm gì, nó hiện ra đủ hết trong quyển Thiên Thơ ấy. Vị Chưởng quản Cung ấy gọi là Nam Tào Bắc Ðẩu. Nơi Nam Tào Bắc Ðẩu, không có ai trị ta hết, chính ta trị lấy ta. Sau khi xem xong quyển Vô Tự Kinh, ta thấy hết hành tàng của ta thì ta định kiếp cho ta, chính Chơn thần định án ta, chớ không ai định án ta hết, nên dầu ta muốn chối tội cũng không được. Cái bí mật vô đối cầm quyền cả Càn Khôn Vũ Trụ là như vậy: Chính mình làm tòa xử lấy mình.”

Quả duyên 果 緣: Quả là cái kết quả, duyên là cái sức bổ trợ cho cái Nhân thành thành cái Quả. Quả duyên là cái kết quả do sự bổ trợ của cái duyên mà đạt được, tức là cái phẩm vị đạt được do công đức tu hành.

C.7-8: Chơn hồn đi lần vào trong đến Cung Ngọc Diệt Hình, mở quyển Vô Tự Kinh thì chữ mới hiện ra để Chơn hồn xem tận căn duyên nghiệp quả của mình.

Sau khi xét mình ở kiếp này xong, Chơn hồn tiếp tục được đi đến các cảnh giới khác nhau để học hỏi, tu dưỡng và tịnh hóa. Sau một thời gian dài, khi về đến Bạch Ngọc Kinh sẽ được đưa đến Cung Ngọc Diệt Hình do hai vị là Đức Nam Tào và Đức Bắc Đẩu chưởng quản. Trong Cung này có Thiên Thư, là quyển Kinh Vô Tự, khi nhìn vào ấy thì Chơn hồn thấy được hết căn duyên nghiệp quả các kiếp sinh của mình từ xa xưa đến giờ. Từ đó mà Chơn hồn sẽ định quyết là tội hay phước, do chính Chơn hồn tự phán xét lấy mình.

Câu 9-10:

Ðắc văn sách thông Thiên định Ðịa,

Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân.

Ðắc văn sách 得 文 冊: Hiểu rõ được những kinh văn trong sách Trường Xuân.

Thông Thiên định Ðịa 通 天 定 地: Thông suốt các việc ở trên Trời, định rõ các việc ở dưới đất tức là quyết định được các việc nơi cõi trần. Như vậy Chơn hồn đã có được trí huệ và Thần thông.

Phép huyền công: Công phu tu luyện đạt được các phép tắc biến hóa huyền diệu.

Trụ nghĩa 住 義: Đứng vào những điều nghĩa, tức là ở trong vòng những điều đúng theo đạo lý. Hoá thân 化 身: Biến hóa thân mình bằng cách dùng phép thuật huyền diệu.

C.9-10: Sau khi quán xét căn duyên nghiệp quả, Chơn hồn lĩnh ngộ được các kinh văn từ sách Trường Xuân, thông suốt mọi lẽ huyền vi Thiên Địa. Khởi tâm từ hòa phụng sự chúng sinh thì có thể hóa hình thành một vị Chánh Thần có huyền phép độ thế.

Câu 11-12:

Kỵ Kim quang kiến Lão Quân.

Dựa xe Như Ý, Oai Thần tiễn thăng.

Kỵ 騎: Cỡi. Kim quang: Lằn ánh sánh vàng. Kỵ Kim quang 金 光: Cỡi trên lằn ánh sáng vàng, ý nói đứng trên lằn ánh sáng vàng để nó đưa đi (giống như C.8 Kinh Ðệ Nhị Cửu: Kim quang kiệu đỡ). Kiến Lão Quân 見 老 君: Bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân.

Dựa: Nương vào, cậy vào. Xe Như Ý 如 意 車: Chiếc xe Tiên, mà người ngồi trên đó muốn đi đến đâu thì nó sẽ đưa đến đó đúng như ý muốn.

Oai Thần 神 威: Các vị Thần oai vệ. Tiễn thăng 餞 升: Ðưa tiễn bay lên. Tiễn là đưa lên đường, thăng là bay lên.

C.11-12: Sau khi lĩnh ngộ được các huyền vi Trời Đất, Chơn hồn cưỡi trên Như Ý Kim Quang Kiệu trở về bái kiến Đức Thái Thượng Lão Quân, trình tấu Ngài về những hành tàng, sự chứng ngộ của mình, lựa chọn con đường của mình ra sao. Sau đó, nhờ oai thần huyền diệu của cỗ xe Như Ý của Đức Lão Quân đưa tiễn cao thăng hơn nữa, đến tầng Kim Thiên.

Nguồn gốc

Bài Kinh Đệ Ngũ Cửu do Ngũ Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. 

Ngũ Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ năm trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Ngũ Nương mặc áo màu đỏ, ngồi bên trái Đức Phật Mẫu, tay cầm cây Như Ý. Ngài đã từng có một kiếp giáng trần ở Nam Việt là Công Chúa Liễu Hạnh, được dân gian tôn thờ là Bà Chúa Liễu Hạnh, Liễu Hạnh Thánh Mẫu.

Ngũ Nương Diêu Trì Cung có nhiệm vụ tiếp dẫn Chơn hồn đến tầng Xích Thiên, đưa Chơn hồn đến đài Chiếu Giám để xem rõ những hành vi tội phước của mình nơi thế gian, rồi tiếp tục dẫn đến khai Kinh Vô Tự đặng thấy được quả duyên của mình. Sau đó, nhờ xe Như Ý đưa Chơn hồn tiếp lên tầng Trời trên.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết