Kinh văn

(Giọng Nam Xuân)

Bạch Y Quan mở đàng rước khách,

Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

Vào cung Vạn Pháp xem qua,

Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên nhiên.

Cung Lập khuyết tìm duyên định ngự,

Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

Minh Vương Khổng Tước cao bay,

Đem chơn thần đến tận đài Huệ Hương.

Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể,

Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.

Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,

Đưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần1Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )

LỤC NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

Diễn nghĩa

Kinh Đệ Lục Cửu
Ảnh minh hoạ Kinh Đệ Lục Cửu

Câu 1-2: Bạch Y Quan mở đàng rước khách, Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

Nơi Bạch Y Quan, đường vào cửa được mở ra để sẵn sàng tiếp rước các khách trần. Chơn hồn nhẹ nhàng bước xuống rời khỏi chiếc xe Tiên để đi vào cõi Kim Thiên.

Câu 3-4:Vào Cung Vạn Pháp xem qua, Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên nhiên.

Chơn hồn được đưa vào Cung Vạn Pháp để xem cho biết sự nghiệp cũ của mình tạo nơi thế gian được ngôi vị cao hay thấp. 

Câu 5-6: Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự. Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

Chơn hồn vào Cung Lập Khuyết tìm lại ngôi vị cũ để được ngự lên. Chơn hồn đến lãnh Kim sa lịnh của Phật để được dự hội nghị Như Lai.

Câu 7-8: Minh Vương Khổng Tước cao bay, Ðem Chơn thần đến tận Ðài Huệ Hương.

Minh Vương Khổng Tước, vị sứ giả của Phật đến chở Chơn thần bay cao và đưa đến tận Đài Huệ Hương.

Câu 9-10: Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể, Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.

Vào Đài Huệ Hương, mùi hương ngào ngọt xông thơm luôn cả Chơn thần. Giúp tiêu trừ hết sạch những ô uế bị lẫn vào trong khí sinh quang của Chơn thần.

Câu 11-12: Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan, Ðưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

Khúc nhạc thiều của Trời khởi lên lúc nhanh lúc chậm, đưa Chơn linh thẳng lên đến cõi Niết Bàn mới thôi.

Giải thích từ ngữ

Câu 1-2:

Bạch Y Quan mở đàng rước khách,

Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

Bạch Y Quan 白 衣 冠: Một địa danh nơi cõi Kim Thiên.

Mở đàng rước khách: Khai mở con đường để tiếp rước khách.

Nhẹ tách: Nhẹ nhàng rời khỏi.

Tiên xa 仙 車: Chiếc xe Tiên, cũng gọi là xe Như Ý.

C.1-2: Nơi Bạch Y Quan, đường vào cửa được mở ra để sẵn sàng tiếp rước các khách trần. Chơn hồn nhẹ nhàng bước xuống rời khỏi chiếc xe Tiên để đi vào cõi Kim Thiên.

Câu 3-4:

Vào Cung Vạn Pháp xem qua,

Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên nhiên.

Cung Vạn Pháp: Hay Vạn Pháp Cung 萬 法 宮, là một cung nơi tầng Kim Thiên. Tường 詳: Biết rõ, rõ ràng. Cựu nghiệp 舊 業: Sự nghiệp cũ, tức là tất cả những sự nghiệp do nhiều kiếp sống trước đã tạo ra.

Thiên nhiên: Cái mà Trời làm ra như thế, không phải do sức người tạo ra. Tòa thiên nhiên: Thiên nhiên tọa 天 然 座: Nghĩa là một cái tòa tự nhiên, tức là ngôi vị do nhiều kiếp trước ở nơi thế gian mình tạo công đức mà được. Ngôi vị này cao hay thấp là do công đức mình làm trong kiếp sanh nhiều hay ít.

Câu 3-4: Chơn hồn được đưa vào Cung Vạn Pháp để xem cho biết sự nghiệp cũ của mình tạo nơi thế gian được ngôi vị cao hay thấp. 

Chơn hồn được đưa vào Cung Vạn Pháp để xem qua cho biết rõ ràng sự nghiệp cũ của mình được ghi lại trong mấy Tòa thiên nhiên.

Theo ý nghĩa Kinh, Chơn hồn đến tầng Kim Thiên rồi được đưa vào cung Vạn Pháp, một cung huyền diệu, thiên biến vạn hóa, nơi đó hiện ra cho thấy những công đức đã đạt được, tức là những ngôi vị đã định sẵn do duyên nghiệp mà Chơn hồn tạo lập từ nhiều kiếp trên cõi thế gian.

Câu 5-6:

Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự.

Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

Cung Lập Khuyết 立 闕 宮: Một cung nơi cõi Kim Thiên.

Duyên: Cái mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước. Ở đây ý nói ngôi vị cũ của mình nơi cõi thiêng liêng.

Tìm duyên: Noi theo ngôi vị cũ mà tìm về.

Định ngự: Ý định ngồi lên.

Lãnh: Tiếp nhận.

Kim sa 金 沙: Hạt cát vàng. Đây là phép của Đức Phật, tượng trưng cho hiệu lịnh mà mỗi Chơn hồn phải đến lãnh để được gặp Đức Như Lai.

Đặng dự: Được tham dự.

Như Lai 如 來: Theo Kinh Kim Cương, Như Lai là bậc không từ đâu mà tới và cũng sẽ không đi tới đâu. Như Lai từ Chân như tới và sẽ đi về chân như. Như Lai là một trong mười danh hiệu Phật để chỉ bậc giác ngộ viên mãn.

C.5-6: Chơn hồn vào Cung Lập Khuyết tìm lại ngôi vị cũ để được ngự lên. Chơn hồn đến lãnh Kim sa lịnh của Phật để được dự hội nghị Như Lai.

Câu 7-8:

Minh Vương Khổng Tước cao bay,

Ðem Chơn thần đến tận Ðài Huệ Hương.

Minh Vương 明 王: Chỉ các vị Tôn giả theo hầu đức Phật.

Theo Phật Học Từ Ðiển, Minh Vương là những vị Tôn giả hầu cận Ðức Phật, thọ giáo lệnh của Ðức Phật, hiện thân hàng phục bọn ác ma. Các Tôn giả nầy có trí huệ và oai đức, đánh phá hết thảy các ma chướng, ủng hộ các nhà tu hành chơn thật. Tuy là người hầu cận Ðức Phật, nhưng vâng mệnh cầm giữ giáo lệnh thì quyền uy như một vị Minh Vương.

Khổng tước 孔 雀: Chim công

Minh Vương Khổng Tước: là vị Tôn giả hầu cận Ðức Phật Chuẩn Ðề (Chuẩn Ðề Bồ Tát) mà nguyên căn là một con công, sanh vào thời Khai Thiên Lập Ðịa, được Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát thâu phục vào thời Phong Thần. Khi Ðức Chuẩn Ðề xuất du thì vị tôn giả nầy hiện lại nguyên hình là một con công màu đỏ, xòe 2 cánh chiếu hào quang ngũ sắc, chở Ðức Chuẩn Ðề bay đi.

Đài Huệ Hương 慧 香 臺: Một ngôi đài ngát thơm ở Tầng Kim Thiên.

C.7-8: Minh Vương Khổng Tước, vị sứ giả của Phật đến chở Chơn thần bay cao và đưa đến tận Đài Huệ Hương.

Câu 9-10:

Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh thể,

Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.

Mùi ngào ngọt: Mùi thơm ngọt ngào.

Thánh thể 聖 體: Thân thể hay hình hài thiêng liêng, tức chỉ Chơn thần.

Trừ tiêu tàn 除 消 殘: Diệt trừ cho tiêu mất.

Ô uế 污 穢: Dơ bẩn.

Sinh quang 生 光: Khí sinh quang, một chất khí nuôi dưỡng sự sống cho vạn linh.

C.9-10: Vào Đài Huệ Hương, mùi hương ngào ngọt xông thơm luôn cả Chơn thần. Giúp tiêu trừ hết sạch những ô uế bị lẫn vào trong khí sinh quang của Chơn thần.

Câu 11-12:

Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,

Ðưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

Thiên thiều 天 韶: Thiên thiều: Thiều là nhạc thiều, loại nhạc cung đình, nghe rất réo rắt êm tai, khiến cho tâm hồn người nghe trở nên cao thượng. Tương truyền Nhạc thiều do vua Thuấn học được của Bà Nữ Oa. Thiên thiều là nhạc thiều của Trời

Trổi tiếng: Âm thanh trổi lên. Nhặt khoan: Khi nhanh khi chậm. Trổi tiếng nhặt khoan: Khởi lên tiếng nhạc khi nhanh khi chậm, khi nhặt khi lơi.

Đưa linh: Đưa chơn linh đi.

Niết bàn 涅 槃: Cảnh giới giải thoát, cõi Phật.

C.11-12: Khúc nhạc thiều của Trời khởi lên lúc nhanh lúc chậm, đưa Chơn linh thẳng lên đến cõi Niết Bàn mới thôi.

Nguồn gốc

Bài Kinh Đệ Lục Cửu do Lục Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Lục Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ sáu trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện tại Báo Ân Từ, Lục Nương mặc áo màu đỏ, ngồi bên mặt Đức Phật Mẫu, tay cầm phướn Tiêu Diêu (hay phướn Truy Hồn). Ngài đã từng có một kiếp giáng trần ở Việt Nam là bà Hồ Thị Hoa (Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân hoàng hậu), mà trước đó thì có một kiếp khác ở Tây Phương chính là Thánh Nữ Jeanne d’Arc.

Lục Nương có nhiệm vụ cầm phướn Truy Hồn tiếp dẫn các Chơn hồn lên tầng Kim Thiên, rồi đưa Chơn hồn vào cung Vạn Pháp để xem lại cựu nghiệp của mình, tiếp tục vào cung Lập Khuyết xem lại ngôi xưa vị cũ, và được chim Khổng tước chở lên đài Huệ Hương khử trừ trược khí rồi vào cõi Niết Bàn.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết