Kinh văn

(Giọng Nam Xuân)

Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng Đảo,

Động Thiên Thai bảy lão đón đường.

Cam Lồ rưới giọt nhành dương,

Thất tình lục dục như dường tiêu tan.

Cung Đẩu Tốt1Cung Đẩu Suất nhặt khoan tiếng nhạc,

Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.

Tiêu thiều lấp tiếng dục tình,

Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

Cung Như Ý Lão Quân tiếp khách,

Hội Thánh minh giao sách Trường xuân.

Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,

Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (niệm 3 lần2Niệm đến Cao Đài… thì cuối đầu 1 lần, niệm xong lần 3 thì xá 1 xá )

TAM NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

Diễn nghĩa

Kinh Đệ Tam Cửu
Hình ảnh về Kinh Đệ Tam Cửu

Câu 1-2: Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng đảo, Ðộng Thiên Thai Bảy Lão đón đường.

Từ cõi Thanh Thiên đi lên miền đảo Bồng Lai, Chơn thần được vị 7 Ông Tiên ở động Thiên Thai ra đón tiếp.

Câu 3-4: Cam lồ rưới giọt nhành dương, Thất tình Lục dục như dường tiêu tan.

Dùng cành cây dương liễu nhúng vào nước Cam lồ, rải lên Chơn thần để làm tiêu tan Thất tình, lục dục.

Câu 5-6: Cung Ðẩu Tốt nhặt khoan tiếng nhạc, Ðệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.

Tiếng nhạc khi nhanh khi chậm vang từ Đâu Suất Thiên Cung của Ðức Thái Thượng Lão Quân. Chơn thần trình ra cái thẻ lịnh bài thì được chim hạc đưa đi lên.

Câu 7-8: Tiêu thiều lấp tiếng dục tình, Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

Khúc nhạc tiêu thiều che lấp đi các ý niệm về sự ham muốn vật chất, xác thịt, khiến cho tâm hồn con người trở nên cao thượng. Chim phụng đưa Chơn thần lên bờ đạo đức.

Câu 9-10: Cung Như Ý Lão Quân tiếp khách, Hội Thánh Minh giao sách Trường xuân.

Ðức Thái Thượng Lão Quân tiếp khách tại Cung Như Ý. Ðức Thái Thượng hội chư Tiên và chư Thánh lại gọi là Hội Thánh Minh, giao cho Chơn hồn một quyển sách tên là sách Trường Xuân, để Chơn hồn học tập theo đó mà tu luyện thành bực Thánh, bực Tiên.

Câu 11-12: Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn. Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên.

Ánh sáng màu xanh rực rỡ soi khắp núi rừng trùng điệp. Chơn hồn sung sướng vui vẻ lên đường, trông mong lên Trời chầu Ðức Chí Tôn.

Giải thích từ ngữ

Đối với các Chơn hồn đã tịnh lặng tâm tình của mình, buông xả các vướng chấp thế tục tình trường, quyết tâm tinh tấn hồi hướng về bến bờ an lạc thì Chơn hồn được lên thuyền Bát Nhã Từ Hàng vượt qua các cõi giới khác nhau, đến tầng Thanh Thiên. Tầng Thanh Thiên trong Cửu Trùng Thiên này ứng với bầu thanh khí của Thượng Thanh Cảnh Vũ Dư Thiên trong Tam Thập Lục Thiên mà kinh điển Đạo Gia có nói tới.

Chơn hồn được Bát Nhã Thuyền đưa đến Bồng Lai Tiên Cảnh, nơi đây gặp được Trúc Lâm Thất Hiền, được chư vị hướng dẫn những điều cơ bản khi tiến nhập cõi Thiên, được nhận Trường Xuân Sách của Đức Thái Thượng Lão Quân để tu dưỡng tri ngộ việc huyền vi Thiên Địa mà an hưởng cảnh thiêng liêng hằng sống.

Chỉ những Chơn hồn có tu tập, quyết tâm tinh tấn hồi hướng về cõi hằng sống thiêng liêng mới lên thuyền Bát Nhã được. Nếu Chơn hồn còn vướng chấp thì vẫn ở lại Trung Giới của Địa Cầu, không lên thuyền để rời khỏi Địa Cầu về cõi Thiên được.

Thế nên thân nhân nên thường xuyên cầu nguyện với Chơn hồn người quá vãng nói với người ấy sớm buông xả chuyện thế tục tình trường, đừng vì thương nhớ lo lắng cho người còn sống mà ở lại phàm gian, hãy buông xả để hưởng cảnh an nhàn thong dong tự tại.

Câu 1-2:

Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng đảo.

Ðộng Thiên Thai Bảy Lão đón đường.

Thanh Thiên 青 天: Là một tầng Trời trong Cửu Trùng Thiên, có ánh sáng màu xanh.

Bồng đảo 蓬 島: Ðảo Bồng Lai, một hòn đảo có Tiên ở. Tương truyền ở biển Bột Hải nơi cõi thiêng liêng có 3 hòn đảo: Bồng đảo 蓬 島 (tức là đảo Bồng Lai), Dinh đảo 瀛 島 (tức là đảo Dinh Châu), Phương đảo 芳 島 (tức là đảo Phương Trượng). Ba hòn đảo này đều có các vị Tiên đến ở. Trên đảo Bồng Lai có núi Bồng Lai (Bồng sơn) là nơi ở của Bát Tiên. Nước biển chung quanh 3 hòn đảo này thì rất nhẹ, không đỡ nổi hột cải, nên gọi là Nhược Thủy 弱 水 (nước yếu).

Ðộng: Hang đá trong núi. Thiên Thai 天 台: tên của một hòn núi có Tiên ở.

Trong truyện Lưu Thần và Nguyễn Triệu, hai chàng đi lên núi Thiên Thai hái thuốc, bị lạc không biết đường về, xảy gặp 2 nàng Tiên từ trong núi đi ra, rồi kết duyên cùng 2 nàng Tiên này. Ở núi Thiên Thai được chừng nửa năm, 2 chàng nhớ quê đòi trở về thăm. Khi về đến nhà thì con cháu đã đến đời thứ 7, không còn ai nhận ra. Hai chàng thất vọng, buồn bã trở lại núi Thiên Thai thì không tìm được đường lên núi, đành chịu chết ở chân núi.

Bảy Lão: Bảy Ông Tiên, có lẽ đây là Trúc Lâm Thất Hiền tu thành Tiên, làm tản Tiên sống trong rừng trúc, tương truyền bảy vị này chính là Thất Hiền Trúc Lâm đời nhà Tấn, bao gồm:

  1. Kê Khang (223 – 263)
  2. Nguyễn Tịch (210 – 263)
  3. Lưu Linh (221 – 300)
  4. Sơn Đào (205 – 283)
  5. Hướng Tú (221 – 300)
  6. Vương Nhung (234 – 305)
  7. Nguyễn Hàm (??? – ???).

Bảy vị này tiếp đón để cho Chơn hồn ngao du cảnh trí nơi đây mà quen dần với cõi Thiên.

C.1-2: Từ cõi Thanh Thiên đi lên miền đảo Bồng Lai, Chơn thần được vị 7 Ông Tiên ở động Thiên Thai ra đón tiếp.

Câu 3-4:

Cam lồ rưới giọt nhành dương,

Thất tình Lục dục như dường tiêu tan.

Cam lồ 甘 露: Một thứ nước huyền diệu do các Đấng Tiên Phật luyện thành. Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhờ đại ân xá của Đức Chí Tôn, Đạo Cao Đài cũng có được nước Cam Lộ để trừ bỏ trược kiếp, oan nghiệt tội chướng, bằng bí pháp luyện Cam Lộ Thủy.

Rưới giọt: Rãi từng giọt xuống. Nhành dương: Nhành dương liễu.

C.3-4: Dùng cành cây dương liễu nhúng vào nước Cam lồ, rải lên Chơn thần để làm tiêu tan Thất tình, lục dục.

Hai Câu kinh này làm ta liên tưởng về Phép Xác (Đoặn Căn): Vị Chức sắc hành pháp dùng nước Âm Dương cúng nơi Thiên bàn, đổ chung lại để luyện thành Cam lồ thủy, rồi dùng cành dương liễu nhúng vào nước này rải lên Chơn thần người chết đang nằm trong quan tài, để tẩy rửa Chơn thần cho được tinh khiết. Vị Chức sắc hành pháp phải trụ thần cho có huệ nhãn mới nhìn xuyên qua được lớp ván của quan tài, thấy được Chơn thần của người chết, thì việc hành pháp mới đạt hiệu quả huyền diệu.

Câu 5-6:

Cung Ðẩu Tốt nhặt khoan tiếng nhạc.

Ðệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.

Cung Ðẩu Tốt: Tức là Đâu Suất Thiên Cung 兜 率 天 宮 của Đức Thái Thượng Lão Quân. Nhặt khoan: Khi nhanh khi chậm. Tiếng nhạc: Âm thanh như điệu nhạc.

Ðệ 遞: Ðưa lên cấp trên với cử chỉ kính trọng. Lịnh bài: Cái thẻ bài dùng làm hiệu lịnh của một vị Bề Trên cấp cho. Cánh hạc: Ðôi cánh chim hạc. Ðưa linh: Ðưa linh hồn đi lên.

C.5-6: Tiếng nhạc khi nhanh khi chậm vang từ Đâu Suất Thiên Cung của Ðức Thái Thượng Lão Quân. Chơn thần trình ra cái thẻ lịnh bài thì được chim hạc đưa đi lên.

Tiếng nhạc từ Đâu Suất Thiên Cung, nhặt khoan vang vọng ra xa xa, âm thanh du dương, réo rắt. Đây bên Phật gọi là Thiên nhạc.

Theo Kinh Di Đà, cõi Cực Lạc cũng có Thiên nhạc (kinh viết: Bỉ Phật Quốc độ thường tác Thiên nhạc…nghĩa là Cõi nước Phật thường trỗi Thiên nhạc…). Thiên nhạc có hai loại:

  1. Chư Thiên chi nhạc: Tức là các loại âm nhạc do chư Thiên trong tam giới thường diễn tấu lên để cúng dường Đức Phật.
  2. Thiên nhiên nhạc: Nghĩa là loại âm nhạc tự nhiên vang ra thành tiếng. Như Kinh Đại Bổn nói: “Cũng tự nhiên có vạn thứ âm nhạc, không tiếng nhạc nào là không thanh tịnh, trong trẻo, thông suốt, vi diệu, trong sáng, thanh nhã, hết thảy các thứ âm thanh trong thế gian chẳng sánh được nổi”.
Câu 7-8:

Tiêu thiều lấp tiếng dục tình.

Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

Tiêu thiều: Tiêu là cái ống sáo, thiều là sáng đẹp. Tiêu thiều là tên của một khúc nhạc thổi bằng ống sáo nghe rất réo rắt, khiến tâm hồn người nghe trở nên thanh. Tương truyền khúc nhạc Tiêu thiều này do Bà Nữ Oa chế ra và vua Thuấn học được, đem dạy cho nhạc công trong triều đình.

Theo Thiên Thuấn Điển trong Kinh Thư, khi vừa mới lên ngôi, vua Thuấn dạy ông Quỳ 夔 về nhạc như sau: Thầy Quỳ! Ta sai ngươi giữ âm nhạc, dạy các con trưởng từ con vua đến con quan khanh nên chính trực mà ôn hòa, khoan dung mà hơi ngặt, cương nghị mà không tàn ngược, giản dị mà không ngạo mạn. Cách dạy nên tham về âm nhạc. Thơ để bày tỏ chí khí, bài ca vịnh ngôn, thanh nương theo vịnh, luật hòa với thanh. Bát âm đều hòa hiệp rồi, không chen lấn nhau, cho nên dùng vào việc tế tự, quỷ thần cùng người đều hòa cả.

Ông Quỳ thưa rằng: Ôi! Tôi đánh và vỗ vào đá ra tiếng âm nhạc, trăm loài thú đều kéo nhau đến nhảy múa.

(Quỳ! Mệnh nhữ điển nhạc, giáo trụ tử. Trực nhi ôn. Khoan nhi lật. Cương nhi vô ngược. Giản nhi vô ngạo. Thi ngôn chí. Ca vịnh ngôn. Thanh y vịnh. Luật hòa thanh. Bát âm khắc hài, vô tương đoạt luân, thần nhân dĩ hòa. Quỳ viết: Ư! Dư kích thạch, phụ thạch, bách thú suất vũ.夔! 命 汝 典 樂, 教 冑 子. 直 而 溫 寬 而 栗 剛 而 無 虐 簡 而 無 傲. 詩 言 志 歌 詠 言 聲 依 詠 律 和 聲. 八 音 克 諧 無 相 奪 倫 神 人 以 和.

夔 曰: 於! 予 擊 石 拊 石 百 獸 率 舞).

Kinh Thư có dẫn: Khi nhạc Tiêu thiều tấu đến khúc thứ 9 thì chim phượng hoàng đến múa, coi có vẻ uy nghi (Tiêu thiều cửu thành, phụng hoàng lai nghi 簫 韶 九 成, 鳳 凰 來 儀).

Dục tình: Lòng ham muốn vật chất hay thú vui xác thịt.

Bờ dương: Cái bờ đất có trồng cây dương. Trong Ðạo Ðức Kinh có câu: Dương vô trần nhiễm, Ðạo giả như dương. Nghĩa là: Cây dương không nhiễm bụi trần, Ðạo thì như cây dương. Do đó, Bờ dương là bờ đạo đức.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có bài thi như sau:

Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Đạo muôn năm trước định giờ.

May bước phải gìn cho mạnh chí,

Nắm đuôi phướn phụng đến dương bờ.

Bóng phụng: Hình ảnh của con chim phụng.

Bờ dương bóng Phụng: Do câu Hán văn: Phụng hàm đơn chiếu đề dương bạn, nghĩa là: Con chim phụng ngậm sắc lịnh của vua tiến lên bờ đạo đức (Hàm là ngậm, Ðơn chiếu là tờ chiếu đỏ của vua, Ðề là tiến lên, Dương bạn là bờ dương).

Nâng thân: Nâng đỡ xác thân thiêng liêng đem lên.

C.7-8: Khúc nhạc tiêu thiều che lấp đi các ý niệm về sự ham muốn vật chất, xác thịt, khiến cho tâm hồn con người trở nên cao thượng. Chim phụng đưa Chơn thần lên bờ đạo đức.

Câu 9-10:

Cung Như Ý Lão Quân tiếp khách,

Hội Thánh Minh giao sách Trường xuân.

Cung Như Ý: Hay Như Ý Cung 如 意 宮, cung của Đức Thái Thượng Lão Quân.

Lão Quân 老 君: Tức Thái Thượng Đạo Tổ.

Hội Thánh Minh: Một phiên hội hiệp chư Thánh, chư Tiên tại cung Như Ý do Đức Thái Thượng Đạo Quân tổ chức.

C.9-10: Ðức Thái Thượng Lão Quân tiếp khách tại Cung Như Ý. Ðức Thái Thượng hội chư Tiên và chư Thánh lại gọi là Hội Thánh Minh, giao cho Chơn hồn một quyển sách tên là sách Trường Xuân, để Chơn hồn học tập theo đó mà tu luyện thành bực Thánh, bực Tiên.

Câu 11-12:

Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn.

Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên.

Thanh quang 青 光: Ánh sáng màu xanh. Thanh là màu xanh. Nơi từng Trời Thanh Thiên, ánh sáng đều có màu xanh.

Rỡ rỡ: Sáng ngời rực rỡ chói lọi.

Ðòi ngàn 望 天: Ðòi là nhiều, ngàn là rừng núi. Ðòi ngàn là rừng núi chập chồng.

Khoái lạc 快 樂: Vui vẻ.

Vọng Thiên  望 天: Vọng là trông mong, Thiên là Trời. Vọng Thiên là trông mong lên Trời chầu Ðức Chí Tôn.

C.11-12: Ánh sáng màu xanh rực rỡ soi khắp núi rừng trùng điệp. Chơn hồn sung sướng vui vẻ lên đường, trông mong lên Trời chầu Ðức Chí Tôn.

KHẢO DỊ:

Kinh Lễ 1952, Kinh TÐ-TÐ 1968, 1974:

…đôi ngàn.

Kinh TÐ-TÐ năm 1936, 1975:

…đòi ngàn.

Ðôi là hai. Ðòi là nhiều.

Dùng chữ ÐÒI mới đúng.

Nguồn gốc

Bài Kinh Đệ Tam Cửu do Tam Nương Diêu Trì Cung giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. 

Tam Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ ba trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Tam Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên phải Đức Phật Mẫu, tay cầm bửu pháp là Quạt Long Tu. Ngài từng có một kiếp giáng trần ở Việt Nam được dân gian miền Trung biết đến tên là Bà Kim Tuyến.

Tam Nương có nhiệm vụ tiếp dẫn Chơn hồn lên tầng Trời Thanh Thiên, để được rưới nước Cam Lộ cho tiêu thất tình lục dục hầu vào Cung Như Ý bái kiến Thái Thượng Lão Quân. Sau đó, đưa Chơn hồn đến Hội Thánh Minh học sách Trường Xuân để Chơn hồn có thể tiếp tục lên cõi Huỳnh Thiên.

5 1 đánh giá
Đánh giá bài viết
Thay đổi kích cỡ chữ

Bấm “–” để giảm cỡ chữ, bấm “+” để tăng cỡ chữ. Bấm “aA” để reset về cỡ chữ mặc định.

Nội dung bài viết